Hiển thị các bài đăng có nhãn khau. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn khau. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 28 tháng 11, 2013

Thị trường giao sau - Futures Market

Lược sử và tên gọi thị trường giao sau

1- Lịch sử thị trường giao sau

Người ta đã tìm thấy dấu vết, nguồn gốc của TTGS ngay từ thời Trung cổ tại Châu Âu, đó là mối quan hệ được hình thành giữa thương nhân và nông dân. Vào những năm mất mùa, người nông dân trữ hàng làm giá cả tăng cao, điều này gây khó khăn cho giới thương nhân. Ngược lại, khi bội thu, giới thương nhân lại dìm giá xuống, gây khó khăn cho người nông dân. Để tránh tình trạng đó, thương nhân và người nông dân đã gặp nhau trước mỗi vụ mùa để thỏa thuận giá cả trước. Như vậy, rủi ro về giá của cả hai bên đã được giải quyết. 
Tuy nhiên, TTGS đầu tiên trên thế giới ra đời tại thành phố Chicago (Hoa Kỳ).
Vào thập niên 40 thế kỷ XIX, Chicago đã trở thành một trung tâm thương mại lớn của Hoa Kỳ. Cũng trong thời gian đó, máy gặt McCormick đã được phát minh, giúp cho năng suất sản xuất lúa mì tại Mỹ tăng lên rất nhanh chóng. Do đó, những người nông dân trồng lúa mì từ khắp nơi đều quy tụ về Chicago để bán sản phẩm của họ. Dần dần, hoạt động này trở nên sôi nổi đến mức hầu như không đủ nhà kho chứa lúa mì của nông dân. Ngoài ra, sự tồn tại những phương pháp nghèo nàn trong việc cân và phân loại hàng hóa đã đẩy người nông dân vào tình thế phải chịu sự định đoạt củacác thương nhân. 
Tình hình có vẻ khả quan hơn, khi vào năm 1848, một trung tâm giao dịch The Chicago Board of Trade (CBOT) đã được thành lập. Ở đó, người nông dân và các thương nhân có thể mua bán trao ngay tiền mặt và lúa mì theo tiêu chuẩn về số lượng và chất lượng do CBOT qui định. Nhưng các giao dịch ở CBOT bấy giờ chỉ dừng lại ở hình thức của một chợ nông sản vì hình thức mua bán chỉ là nhận hàng – trao tiền đủ, sau đó thì quan hệ các bên chấm dứt. Trong vòng vài năm, một kiểu hợp đồng mới xuất hiện dưới hình thức là các bên cùng thỏa thuận mua bán với nhau một số lượng lúa mì đã được tiêu chuẩn hóa vào một thời điểm trong tương lai. Nhờ đó, người nông dân biết mình sẽ nhận được bao nhiêu cho vụ mùa của mình, còn thương nhân thì biết được khoản lợi nhuận dự kiến. Hai bên ký kết với nhau một hợp đồng và trao một số tiền đặt cọc trước gọi là “tiền bảo đảm”. Quan hệ mua bán này là hình thức của hợp đồng kỳ hạn (forward contract). Nhưng không dừng lại ở đó, quan hệ mua bán ngày càng phát triển và trở nên phổ biến đến nỗi ngân hàng cho phép sử dụng loại hợp đồng này làm vật cầm cố trong các khoản vay. Và rồi, người ta bắt đầu mua đi bán lại trao tay chính loại hợp đồng này trước ngày nó được thanh lý. Nếu thương nhân không muốn mua lúa mì thì họ có thể bán lại cho người khác cần nó hoặc người nông dân không muốn giao hàng thì họ có thể chuyển nghĩa vụ của mình cho người nông dân khác. Giá cả hợp đồng lên xuống dựa vào diễn biến của thị trường lúa mì. Nếu thời tiết xấu xảy đến, thì người bán lại hợp đồng đó sẽ thu được nhiều lãi vì nguồn cung hàng đang thấp đi nên giá hợp đồng sẽ tăng; nếu vụ mùa thu được nhiều hơn sự mong đợi thì người bán hợp đồng sẽ mất giá vì người ta có thể trực tiếp mua lúa mì trên thị trường tự do. Cứ như thế, các quy định cho loại hợp đồng này ngày càng chặt chẽ và người ta quên dần việc mua bán hợp đồng kỳ hạn lúa mì mà chuyển sang lập các hợp đồng giao sau (HĐGS) lúa mì. Vì chi phí cho việc giao dịch loại hợp đồng mới này thấp hơn rất nhiều và người ta có thể dùng nó để bảo hộ giá cả cho chính hàng hóa của họ. Từ đó trở đi, những người nông dân có thể bán lúa mì của mình bằng cả 3 cách: trên thị trường giao ngay, trên thị trường kỳ hạn (forward) hoặc tham gia vào TTGS (futures). 
Lịch sử phát triển của TTGS không dừng lại ở đó. Đến năm 1874, The Chicago Produce Exchange được thành lập và đổi tên thành Chicago Mercantile Exchange (CME), giao dịch thêm một số loại nông sản khác và trở thành TTGS lớn nhất Hoa Kỳ. 
Năm 1972, CME thành lập thêm The International Monetary Market (IMM) để thực hiện các loại giao dịch HĐGS về ngoại tệ. Sau đó, xuất hiện thêm các loại HĐGS tài chính khác như HĐGS tỉ lệ lãi suất (Interest rates), HĐGS về chỉ số chứng khoán… 
Ngày nay, TTGS đã vượt xa khỏi giới hạn của hợp đồng nông sản ban đầu, nó trở thành công cụ tài chính để bảo vệ các loại hàng hóa truyền thống và cũng là một trong những công cụ đầu tư hữu hiệu nhất trong ngành tài chính. TTGS hiện nay hoạt động liên tục thông qua hệ thống Globex nối liền 12 trung tâm tài chính lớn trên thế giới. Sự thay đổi giá cả của các loại hàng hóa chuyển biến từng giây một và gây ảnh hưởng không chỉ đến nền kinh tế của một quốc gia mà cả khu vực và toàn thế giới.
2- Tên gọi
Thuật ngữ HĐGS xuất phát từ thuật ngữ Commodities Futures Contract (Hợp đồng mua bán hàng hóa giao sau). Người ta gọi tên cho loại thị trường này là Commodities Futures Market hoặc Futures Market. Dần dần, trong các tài liệu chỉ sử dụng thuật ngữ Futures để chỉ loại thị trường hoặc loại hợp đồng này. Điểm lưu ý là Futures luôn có “s” ở cuối từ. Trong một số tài liệu ở trong nước có lẽ do sai sót in ấn hay nhầm lẫn đã sử dụng là Future, như vậy là sai so với thuật ngữ quốc tế. Hiện nay, các tài liệu trong nước có rất nhiều cách gọi cho loại hợp đồng này, cụ thể như : hợp đồng Future, hợp đồng Futures, hợp đồng tương lai, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng giao sau… và khi gọi tên thị trường này thì cũng nhiều tên gọi khác nhau tương tự. 
Việc có nhiều cách gọi khác nhau cùng để chỉ một thuật ngữ là một điều bình thường, đặc biệt là trong các thuật ngữ kinh tế. Nhưng trong lãnh vực pháp lý đòi hỏi phải có một thuật ngữ chung, sử dụng thống nhất, giúp cho việc tiếp nhận thông tin nhanh chóng từ người sử dụng thuật ngữ đến người tiếp nhận, tránh tình trạng hiểu sai. 
Theo pháp luật Việt Nam qui định thì chỉ sử dụng thuật ngữ có phiên âm nước ngoài khi chưa có thuật ngữ thay thế hoặc chưa được Việt hóa. Vì vậy các văn bản pháp lý sẽ chỉ sử dụng các thuật ngữ tiếng Việt. Chúng tôi nhận thấy việc sử dụng thuật ngữ dịch từ thuật ngữ nước ngoài hiện nay ở Việt Nam có sự tham khảo bởi nhiều ngôn ngữ khác nhau. Thuật ngữ “hợp đồng tương lai” chẳng qua là do dịch từ Future, nhưng như đã nói, thuật ngữ quốc tế sử dụng là Futures. Các nước nói tiếng Pháp thì sử dụng thuật ngữ “le contrat à terme” để chỉ “futures contract”; “le contrat à terme ferme” để chỉ cho “forward contract”. Khi dịch các thuật ngữ trên sang tiếng Việt, do không có sự thống nhất nên dẫn đến có hai cách gọi là “hợp đồng kỳ hạn” và “hợp đồng giao sau” cho cả hai loại hợp đồng này; không có sự tách bạch cụ thể, đâu là “hợp đồng giao sau”, đâu là “hợp đồng kỳ hạn”. Hiện nay, các nhà kinh doanh thì gọi “hợp đồng kỳ hạn” để chỉ cho cả hợp đồng futures và hợp đồng forward. Còn các nhà nghiên cứu, các sách, giáo trình tài chính thì sử dụng thuật ngữ “hợp đồng kỳ hạn” cho loại Forward contract – le contrat à terme ferme; “hợp đồng giao sau” cho thuật ngữ Futures contract – le contrat à terme. Mặt khác, trong các đề tài nghiên cứu, văn bản của Viện Thương mại, Bộ Thương mại trình Chính phủ cũng sử dụng thuật ngữ “thị trường giao sau”, “hợp đồng giao sau” để chỉ cho loại quan hệ này, nên chúng tôi cũng lựa chọn thuật ngữ này trong đề tài nghiên cứu của mình. 
Tham khảo thêm

Chủ Nhật, 2 tháng 6, 2013

Sữa dê Ever Grow

Sữa dê Ever Grow là 1 sản phẩm chủ đạo của Milk n More nhập khẩu từ New Zealand đã và đang được người tiêu dùng rất ưa thích sử dụng.
Bạn có biết:
* Trên thế giới, số lượng người dùng sữa Dê nhiều hơn sữa bò. 
* Các hạt mỡ cỡ trung bình của sữa Dê là khoảng 2 micromet, trong khi ở sữa bò là 2,5 đến 3,5 micromet làm cho sữa Dê dễ tiêu hoá hơn. 
* Sữa Dê nhiều chất hơn sữa Bò: 13% Canxi, 25% B6, 47% Vitamin A. 
* Theo nghiên cứu được Viện Dinh Dưỡng Và Công Nghệ Thực Phẩm phối hợp trường Đại học Grana-da khoa Physiology tiến hành, sữa Dê rất thích hợp cho những người bị hội chứng " hấp thu kém", những người có lượng cholesterol cao, người bị bệnh loãng xương, người bị thiếu máu, người bị thiếu sắt. 
* Trong các loại sữa, sữa Dê gần giống với sữa người nhất, nên khi uống sữa Dê dễ tiêu hoá, dễ hấp thụ, nhất là đối với trẻ em và người cao tuổi.
Ưu việt của sữa Dê New Zealand:
Ngày nay tại các nước trên thế giới, mọi người sử dụng sữa Dê như một nguồn cung cấp dinh dưỡng cho các thành viên trong gia đình. Đặc biệt, sữa Dê New Zealand lại được ưa chuộng đến vậy. 
Ở một số nước khác trên thế giới, Dê được nuôi dưỡng, cho ăn thức ăn công nghiệp và ngũ cốc. Nhưng những đàn Dê của New Zealand lại được chăn thả tự nhiên trên cánh đồng cỏ xanh và sạch. 
Chất lượng cỏ tốt cho Dê có liên quan trực tiếp đến chất lượng sữa mà Dê cung cấp. Vì thế sữa Dê New Zealand có chất lượng cao nhất trên thế giới, đặc biệt giàu Alpha - s2 - casein và không chứa nhiều Alpha - s1- casein (chất gây dị ứng trẻ em).
Lợi ích của sữa Dê:
Uống sữa dê đều đặn sẽ giúp cải thiện đáng kể cân nặng của cơ thể, tăng cường khoáng hoá cho khung xương, tăng mức vitamin huyết thanh, chất khoáng và haemoglobin trong máu. 
Ngoài ra trong sữa dê tập trụng nhiều các axit béo chuỗi trung tính đóng vai trò quan trọng quyết định nhiều vấn đề liên quan như chứng xơ hoá u nang, sỏi mật... 
Đồng thời axit béo chuỗi trung tính giúp giảm lượng cholesterol trong các động mạch hiệu quả.
Sữa dê hạn chế được nhiều bệnh ở trẻ nhỏ
Các triệu chứng về dạ dày, buồn nôn, đau bụng, ỉa chảy, táo bón, các vần đề về hô hấp cơ thể được hạn chế khi cho trẻ dùng sữa dê. 
Sữa dê tiệt trùng theo phương pháp Pa -Xtơ rất tốt cho những trẻ bị các bệnh liên quan tới đường hô hấp, bệnh dạ dày.
Sữa dê tốt cho sức khoẻ:
- So với các loại sữa khác, sữa dê phong phú khoáng chất can-xi, giúp xương chắc khỏe,làm tăng tỷ trọng xương. Đồng thời canxi trong sữa dê còn có tác dụng đốt mỡ sau bữa ăn. 
- Một trong những lợi thế tốt nhất của sữa dê là kali, đây là chất khoáng có tác dụng duy trìhuyết áp ở ngưỡng an toàn. 
- Một cốc sữa dê có chứa 480,7mg kali, 121,5 mg natri và được xem là dược phẩm tốt ngăn ngừa bệnh cao huyết áp và xơ vữa động mạch 
- Là nguồn bổ sung protein quan trọng hàng ngày. 2 ly sữa dê cung cấp cho trẻ nhỏ một nửa lượng protein cần thiết mỗi ngày.
Sữa dê giúp phòng bệnh thiếu sắt, 
- Đặc biệt còn chống lại bệnh khoáng hoá khung xương 
- Sữa dê có chứa yếu tố Bioactive tự nhiên như Nucleotides, Taurine và Polyamine giúp cơ thể trẻ xây dựng hệ thống miễn dịch, làm giảm nguy cơ nhiễm chứng ho, sổ mũi.
Sữa dê giúp phụ nữ làm đẹp
Sữa dê cực kỳ giàu khoáng, chất béo, vitamin..., làm êm dịu những làn da "khó tính", nhất là những người bị mụn nhọt, chàm eczema, vảy nến... 
Vì vậy, từ nhiều thế kỷ nay, sữa dê được dùng làm sữa tắm yêu thích cho làn da mỏng manh của phụ nữ và làm đẹp nhan sắc.
Đối tượng sử dụng sữa dê:
• Người muốn có dinh dưỡng toàn diện. 
• Người có vấn đề về tiêu hoá, bị eczama hoặc hen suyễn. 
• Trẻ nhỏ bị đầy hơi, quặn ruột hoặc không hấp thụ được khi sử dụng sữa bò hoặc sữa đậu nành. 
• Người già nên sử dụng sữa để cải thiện để dễ hấp thu dinh dưỡng cho cơ thể 
• Người mới ốm dậy, hay sau phẩu thuật cần uống sữa dê để mau phục hồi sức khỏe

So với sữa bò, sữa dê chứa protein tương tự như sữa mẹ, đó là lý do giải thích vì sao sử dụng sữa dê ít gây dị ứng cho bé và sữa dê còn có tác dụng giảm dị ứng, hen suyễn và tăng đề kháng cho bé.
Một chất có tên beta casein được tìm thấy trong cả sữa mẹ và sữa dê. 
Chất này mềm và dễ tiêu hoá hơn chất có tên alfa casein có mặt trong sữa bò. 
Nhìn chung, sữa dê giàu canxi, vitamin B6, kali, niacin, chloride, chất xơ, phôtpho và mangan hơn sữa bò.  
Sữa dê EverGrow được nhập khẩu trực tiếp từ New Zealand có công dụng bồi bổ sức khỏe, tăng cường chất sắt và canxi, đặc biệt tốt cho tiêu hóa, giúp khắc phục các triệu chứng đầy hơi, quặn ruột hoặc không hấp thụ được khi sử dụng sữa bò hoặc sữa đậu nành.

Sữa dê EverGrow của New Zealand còn bổ sung thêm DHA, các vitamin và khoáng chất thiết yếu cho sự phát triển cơ thể và trí não trẻ, giúp trẻ tăng trưởng cân nặng và chiêù cao tối ưu.

Thành phần: Sữa dê nguyên chất 98%, DHA 2%

Hướng dẫn sử dụng:
- Một thìa gạt miệng ( 5g ) + 50ml nước ấm ( dưới 40oC )
            Độ tuổi                                        Nước ( ml )                                      Số thìa ( 5g )
         6 tháng - 3 tuổi                                   100                                                       2
         3 - 14 tuổi                                            150                                                       3
         15 - 18 tuổi                                          200                                                       4
         Trên 18 tuổi                                         300                                                       6
- Để nơi khô ráo, thoáng mát ( Nhiệt độ < 30oC )
* Lưu ý: Sản phẩm này không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế cho thuốc chữa bệnh
Liên hệ mua sữa dê Ever Grow :  01992111199
Tham khảo thêm
=> www.jimmy-group.blogspot.com/2013/10/thit-de.html