Hiển thị các bài đăng có nhãn nha nuoc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nha nuoc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 15 tháng 1, 2014

Doanh nghiệp độc quyền công bố lãi khủng !

Tổng kết năm 2013, hàng loạt Tập đoàn, Tổng Công ty đồng loạt công bố mức lãi khủng khiến dư luận xôn xao: VNPT lãi lên tới 9.281 tỉ đồng, EVN lãi hơn 4.000 tỉ, Petrolimex lãi 1.929 tỉ, TCty Khí VN (PV Gas)  lãi trước thuế gần 15.000 tỉ , TCty Phân bón và Hoá chất dầu khí (PVFCCo) lãi 2.500 tỉ, Tập đoàn Than khoáng sản (Vinacomin) cũng công bố lãi 3.000 tỷ đồng, Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất dầu khí (DPM) sau 9 tháng đạt lợi nhuận sau thuế 1.915 tỉ đồng, Tổng Công ty CP Khoan và Dịch vụ Dầu khí (PVD) cho biết, ước doanh thu năm 2013 đạt 13.700 tỉ đồng và thu 1.750 tỉ đồng lợi nhuận sau thuế, vượt kế hoạch lợi nhuận gần 400 tỉ đồng, Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) lãi ròng gần 26.500 tỷ đồng.
Điều đáng nói là số lãi của một số đơn vị có được là nhờ độc quyền. 
Tuy các doanh nghiệp luôn kêu lỗ để tăng giá, nhưng khi công bố kết quả sản xuất kinh doanh lại khiến dư luận.. té ngửa.
Năm 2013, Tập đoàn Điện lực VN (EVN) đã 2 lần kiến nghị Chính phủ tăng giá bán điện, mỗi lần tăng thêm 5% đều với lý do các thông số đầu vào biến động tăng. Tại cuộc họp báo công bố giá thành điện mới đây, ông Đinh Quang Tri – Phó TGĐ phụ trách tài chính của EVN - cho biết, doanh thu sản xuất kinh doanh điện năm 2013 của EVN ước tính đạt 172.000 tỉ đồng, dự kiến lãi 4.000 tỉ đồng, sẽ trích để bù lỗ cho kinh doanh điện các năm trước, vì vậy chỉ EVN còn lãi 120 tỉ đồng năm. 
Nhờ có lãi mà ngành điện đã cân bằng được tài chính, bù lỗ sản xuất kinh doanh lên đến 12.000 tỉ đồng. Chính vì EVN không những không lỗ như tuyên bố trước đó để được tăng giá điện, mà còn bù được cho khoản lỗ trước đó bị treo, khiến dư luận càng hồ nghi ngành này không chỉ lãi 4.000 tỉ đồng như công bố. 
Góp mặt trong danh sách các ông lớn lãi khủng năm 2013 phải kể đến các DN ngành viễn thông. Tập đoàn Bưu chính Viễn thông VN (VNPT) ngày 10.1 cũng  công bố con số lãi lên tới 9.265 tỉ đồng, vượt mặt EVN, bằng 189,38% so với năm 2012 (tương đương với mức tăng 4.000 tỉ đồng). Tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của VNPT đạt 13,7%, bằng 160,6% so với mức thực hiện của năm ngoái. 

Còn Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) cũng chẳng vừa khi thông báo ước doanh thu năm 2013 đạt 162.886 tỉ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 35.086 tỉ đồng, lãi ròng gần 26.500 tỉ đồng và thu nhập của cán bộ công nhân viên tại Viettel đạt bình quân 23,7 triệu đồng/người/tháng.  

Tuy nhiên, trong năm qua, Thanh tra Bộ Thông tin- Truyền thông (TTTT) đã công bố nhiều mảng tối trong kinh doanh của các tập đoàn này. 
Như chỉ nội việc quản lý dịch vụ nội dung trên sim di động, các nhà mạng Viettel, VinaPhone, MobiFone đều tự ý tích hợp thông tin trên sim, thu tiền của người dùng mà không thông báo rõ ràng, khiến các “thượng đế” của mình bị rút ruột mà không hay biết. Kết quả là hàng trăm tỉ đồng vào “túi” nhà mạng. 
Hay việc đồng loạt tăng giá cước 3G khiến dư luận đồ rằng các nhà mạng “bắt tay” nhau tăng giá cước, trong khi giải thích của Cục Quản lý cạnh tranh vẫn chưa khiến dư luận nguôi ngoai.
Không ít chuyên gia kinh tế đã hơn 1 lần cảnh báo về việc người tiêu dùng sẽ là người chịu hậu quả cuối cùng nếu cứ tiếp tục để các DN độc quyền tự ý thao túng giá. Bằng chứng là Tập đoàn Xăng dầu VN (Petrolimex) cũng vừa công bố mức lãi được cho là “khủng” 1.929 tỉ đồng, trong đó, lợi nhuận từ mảng kinh doanh xăng dầu là 768 tỉ đồng. Trong khi cả năm 2012, lợi nhuận trước thuế của Petrolimex chỉ đạt 978,17 tỉ đồng. 

TS Lê Đăng Doanh - nguyên Viện trưởng Viện Quản lý kinh tế Trung ương - không ngần ngại chỉ ra: 

“Tập đoàn độc quyền lãi khủng là bình thường. Nhưng điều đáng nói hơn ở chỗ, lợi nhuận đạt được đó do anh áp dụng biện pháp gì hay chỉ đơn giản là dựa vào độc quyền, tăng giá sản phẩm?”. Ở các nước, nếu những DN chiếm vị trí độc quyền tăng giá thì lập tức sẽ có cơ quan quản lý cạnh tranh mổ xẻ và không loại trừ, có DN đã phải bị chia nhỏ để không thống lĩnh thị trường. 
Như lời ông Đinh Quang Tri - Phó TGĐ EVN
Nếu hoạch toán chưa đúng vào năm này thì sẽ được tính vào năm sau, khiến dư luận chưa thể an tâm. 
Việc EVN đưa ra các tính toán lỗ lãi, rồi được bộ chủ quản chấp thuận thế là được phép tăng giá đến dưới 10%; sau đó đến cuối năm mới có kiểm toán vào xác định các con số EVN đưa ra là có đáng tin không.
Hay như Tập đoàn Xăng dầu VN vẫn giải thích với dư luận rằng, 
Có thời điểm phải bán xăng dầu dưới giá cơ sở vì liên bộ chưa chấp thuận tăng giá. Ngay cả khi DN vận hành theo Nghị định 84 được chủ động định giá thì vẫn phải chờ ý kiến liên bộ khiến có thời điểm, DN ôm lỗ khi giá thế giới biến động. Nhưng trên thực tế, với tập đoàn chiếm tới 60% thị phần xăng dầu cả nước thì chỉ cần chậm mua vào, bán ra 1 ngày cũng đã có lãi tới cả tỉ đồng. Cộng với việc điều chỉnh giá theo kiểu giá thế giới tăng, DN tăng ngay, giá thế giới giảm thì... từ từ để DN còn bù những lúc giá tăng không chỉ giúp Petrolimex lãi lớn, mà khiến dư luận và kể cả cơ quan quản lý cảm thông, vì là DN phải “đứng mũi chịu sào”! 
Ông Ngô Trí Long – nguyên Phó Viện trưởng Viện Quản lý thị trường giá cả (Bộ Tài chính): 
Theo tôi, không nên quy định lợi nhuận định mức 300đ/lít trong cơ chế giá xăng dầu hiện hành, bởi DN dù không cần tiết giảm chi phí mà vẫn được hưởng phần lợi nhuận định mức này là không công bằng với người sử dụng. Theo tính toán, nếu DN cứ đều đặn nhập hàng, giá thế giới tăng nhưng vẫn hài hòa với giá cơ sở thì lợi nhuận của DN cũng sẽ khá ổn định. Theo tôi, Nghị định 84 sửa đổi tới đây, Nhà nước nên quy định giá trần để đảm bảo người dân không thiệt mà DN vẫn sống được. Khi đó, DN sẽ phải tìm cách tiết giảm chi phí, tăng hiệu quả kinh doanh để đạt được lợi nhuận thay vì tìm cách tăng giá như hiện nay.
Ông Cao Sĩ Kiêm - nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước: 
Độc quyền là mầm mống của tăng giá. Việc giá thành hay lỗ lãi của các tập đoàn, TCty vừa qua tất nhiên là phải có cơ sở họ mới dám công bố. Tuy nhiên, việc công bố con số lỗ lãi cần do cơ quan chức năng thực hiện thì mới khách quan. Theo tôi, để có căn cứ xác thực về các con số lỗ lãi của các DN nhà nước, Nhà nước cần yêu cầu các DN này khi công bố kết quả tài chính phải được các cơ quan kiểm toán, hoặc các cơ quan chức năng thẩm định. Việc này rất quan trọng trong bối cảnh thị trường còn mang tính độc quyền chi phí, bởi độc quyền chính là mầm mống của những hiện tượng tăng giá bất hợp lý.

Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013

Cấm người dùng facebook chia sẽ thông tin?

Nghị định số 72/2013/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng đã chính thức được công bố chiều 31-7-2013 tại Hà Nội với nhiều đổi mới so với Nghị định số 97 ban hành năm 2008.

Nghị định 72, được Thủ tướng Chính phủ ký ngày 15-7-2013 và sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 1-9-2013, định nghĩa:

Trang thông tin điện tử cá nhân là trang thông tin điện tử do cá nhân thiết lập hoặc thiết lập thông qua việc sử dụng dịch vụ mạng xã hội để cung cấp, trao đổi thông tin của chính cá nhân đó, không đại diện cho tổ chức hoặc cá nhân khác và không cung cấp thông tin tổng hợp.  
Như vậy, những tài khoản được lập thông qua các mạng xã hội như Facebook sẽ chỉ được đăng thông tin của riêng cá nhân đó. 
Ông Hoàng Vĩnh Bảo, Cục trưởng Cục Phát thanh truyền hình và Thông tin điện tử, giải thích với VnExpress.net: 
Trước hết chúng ta phải nói rõ đây là trang thông tin của cá nhân, mà các trang cá nhân thì được phép đưa thông tin về những thứ của chính mình, không được dẫn thông tin tổng hợp, tức là không được trích dẫn thông tin từ các cơ quan báo chí hay các trang web của cơ quan nhà nước.
Hiện nay, có rất nhiều blog hoặc tài khoản Facebook do cá nhân lập ra để chia sẻ tin tức thời sự, hay các bài viết về sức khoẻ, công nghệ, thời trang... mà chủ nhân của những trang đó thu thập từ báo chí để thu hút cộng đồng. 
Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Lê Nam Thắng bổ sung:
Trong thực tế có thể vẫn còn nhiều trang Facebook đang tổng hợp thông tin, các cơ quan quản lý sẽ tăng cường thanh tra xử lý. 
Tổng hợp còn liên quan đến vấn đề bản quyền, sở hữu trí tuệ, không phải lấy chỗ nọ sang chỗ kia, đưa lên thành của mình được. 
Trích dẫn phải xin phép và được đồng ý. 
Ngay cả việc đưa thông tin cá nhân cũng phải tuân thủ quy định pháp luật.
Một nội dung khác cũng đặc biệt được quan tâm là quản lý thông tin xuyên biên giới, Nghị định nêu rõ:
Các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài khi cung cấp thông tin công cộng qua biên giới có người sử dụng tại Việt Nam hoặc có truy cập từ Việt Nam cần tuân thủ các quy định của pháp luật liên quan của Việt Nam.
Tuy nhiên, khi được hỏi về những hình thức xử phạt cụ thể với các trường hợp vi phạm, Thứ trưởng Lê Nam Thắng cho hay 
Hiện Ban soạn thảo của Bộ Thông tin và Truyền thông vẫn đang trong quá trình xây dựng Nghị định về xử phạt các vi phạm hành chính trong cả hai lĩnh vực Bưu chính - Viễn thông - CNTT và lĩnh vực Báo chí - Xuất bản và dự kiến sẽ trình Chính phủ trong thời gian gần đây.
Thứ trưởng Lê Nam Thắng: 
Nghị định về xử lý vi phạm trên Internet đang được soạn thảo và sẽ trình Chính phủ thời gian tới.
Thứ trưởng Lê Nam Thắng nhấn mạnh: 
Internet là phát minh lớn của loài người, nhưng thách thức là những kẻ xấu lợi dụng thành tựu công nghệ  để vi phạm pháp luật. 
Trong điều kiện trên lãnh thổ từng nước thì dễ quản lý, nhưng xuyên biên giới lại là thách thức lớn. 
Chúng tôi sẽ lấy ý kiến của các tổ chức, doanh nghiệp liên quan, đăng trên cổng thông tin để công khai minh bạch, cũng như tham chiếu các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia và tham khảo quy định của các quốc gia khác trong vấn đề quản lý dịch vụ xuyên biên giới.
Nhận định về những trang web mạo danh các lãnh đạo Đảng, nhà nước, những người nổi tiếng, Thứ trưởng cho hay:
Internet là một xã hội thu nhỏ, có người tốt, người xấu, có thông tin tốt, có thông tin không chính xác, lừa đảo. 
Việc xử lý nội dung thông tin độc hại cũng sẽ được áp dụng như trong cuộc đời thực. 
Bộ Thông tin và Truyền thông cùng các bộ ngành, cơ quan báo chí cũng phải vào cuộc, đấu tranh chống lại luận điệu sai trái chứ chỉ dùng biện pháp kỹ thuật để ngăn chặn.
Chiều ngày 31/7/2013, Bộ TT&TT đã tổ chức buổi họp báo giới thiệu Nghị định 72/2013/NĐ-CP (gọi tắt là Nghị định 72) về quản lý và cung cấp sử dụng dịch vụ Internet. Báo chí trong nước đã có nhiều bài viết về các vấn đề được đề cập đến trong Nghị định 72 trong đó có vấn đề về quản lý các trang thông tin điện tử cá nhân. Nhiều người đã hiểu không chính xác nội dung của Nghị định, dẫn đến những bức xúc khi cho rằng: Nghị định cấm các cá nhân (chủ sở hữu trang thông tin điện tử cá nhân) chia sẻ và tổng hợp tin tức.
Vậy thực tế, người sử dụng mạng xã hội (đặc biệt là người sử dụng mạng xã hội Facebook) có được chia sẻ tin tức không? 
Câu trả lời là: Có và Luật pháp VN chưa và sẽ không bao giờ ngăn cấm việc làm đó. Sự bức xúc của dư luận xuất phát từ cách hiểu sai nội dung Nghị định 72.
Trong Điều 20 (Phân loại trang thông tin điện tử), Mục I (Chương III: Quản lý, Cung cấp và sử dụng thông tin trên mạng), Nghị định 72 nêu khái niệm: 
Trang thông tin điện tử cá nhân là trang thông tin điện tử do cá nhân thiết lập hoặc thiết lập thông qua việc sử dụng dịch vụ mạng xã hội để cung cấp, trao đổi thông tin của chính cá nhân đó, không đại diện cho tổ chức hoặc cá nhân khác và không cung cấp thông tin tổng hợp. 
Có thể thấy, đây chỉ là điều khoản mà Bộ TT&TT sử dụng để phân loại (phân biệt) các loại hình trang thông tin điện tử.
Một số người sẽ thắc mắc về cụm từ “không cung cấp thông tin tổng hợp” và cho rằng đó là sự cấm đoán, thì tại mục 19, Điều 3 (Giải thích từ ngữ), Nghị định 72 đã nói như sau:
Thông tin tổng hợp là thông tin được tổng hợp từ nhiều nguồn thông tin về 1 hoặc nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội...
Nhà báo Nguyễn Vạn Phú (Thời báo Kinh tế Sài Gòn) cho rằng:
Cụm từ “không cung cấp thông tin tổng hợp” xuất hiện trong Nghị định 72, không chỉ áp dụng cho trang thông tin điện tử cá nhân mà còn xuất hiện trong các phần nói về “trang thông tin điện tử nội bộ” (tức của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp), “trang thông tin điện tử ứng dụng chuyên ngành” (ví dụ của viễn thông, ngân hàng) với nghĩa khá rõ là 3 loại hình trang thông tin điện tử này không được trích dẫn nguyên văn hay đúng hơn là trích lại toàn văn các nguồn tin trên báo chí chính thức.
Cũng theo ý kiến của nhà báo Nguyễn Vạn Phú: 
Quy định này nhằm chấm dứt tình trạng lấy lại tin bài trên các báo, đăng nguyên văn mà không xin phép, rồi đôi lúc còn sửa đổi nội dung, giật tít mang tính câu khách của nhiều trang mạng. 
Vậy là cho dù có giải thích - lý giải lòng vòng thì cuối cùng kể từ ngày 1-9-2013 trở đi, facebook, twitter, blog ... khi đưa thông tin cho dù là thông tin cá nhân cũng phải tuân thủ quy định của pháp luật 
 Nguồn 
=> cac trang ca nhan khong duoc tong hop thong tin 
=>  co su hieu nham ve Nghi dinh 72 
=> noi dung nghi dinh 72/2013/NĐ-CP 

Vàng Tài Khoản không phải là "Vàng Ảo"

Từ khi Việt Nam xuất hiện hoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài (2006) và kinh doanh vàng tại các trung tâm giao dịch vàng hay còn gọi là sàn vàng (2007), một số phương tiện truyền thông trong nước thường đề cập đến khái niệm “vàng ảo”. Tuy nhiên, theo người viết, khái niệm “vàng ảo” chưa phản ánh đúng bản chất vấn đề và gây ra nhiều ngộ nhận không cần thiết đối với các nhà đầu tư, nhà phân tích, nhà quản lý và nhà hoạch định chính sách.
Nhiều bài viết về thị trường vàng có vẻ thích dùng từ “vàng ảo” (viết nháy trong ngoặc kép). 
Tuy nhiên, nội dung bài viết thường chỉ mô tả được một vài khía cạnh đơn lẻ trong quy trình kỹ thuật sản phẩm và thiếu góc nhìn toàn cục của hoạt động kinh doanh vàng, rồi đi đến kết luận bằng vài chữ đại loại “như thế là ảo”, hoặc “đó là vàng ảo”. 
Nói cách khác, một khái niệm mới được nêu ra, nhưng thiếu định nghĩa thấu đáo để có thể thảo luận.  
Cái gọi là “vàng ảo” mà một số bài viết nêu lên thường muốn gắn kết với vàng trên tài khoản. 
Ngoài ra, còn có một số tình huống ngộ nhận khác cũng bị quy kết là “ảo”.
Người viết kỳ vọng, việc phân tích cụ thể ba trường hợp dưới đây - xuất phát từ kinh nghiệm và cơ sở lý luận thực tiễn - sẽ giúp phản ánh đúng bản chất vấn đề của thị trường vàng dưới góc nhìn đa chiều và logic, qua đó chứng minh khái niệm “vàng ảo” là không có cơ sở. 

Trường hợp 1: Vàng trên tài khoản không phải là vàng ảo 


Có lẽ do quá  quen với cảnh mua bán vàng miếng ở Việt Nam (một cách thức giao dịch lâu đời, nhưng ẩn chứa nhiều bất tiện và rủi ro), nên người ta dễ có khuynh hướng xem vàng không tồn tại dưới dạng vật chất hữu hình là “vàng ảo”. Lập luận này thiếu căn cứ do không dựa trên nền tảng về chuẩn mực hạch toán kế toán.


Lấy ví dụ về một doanh nghiệp Việt Nam (gọi tắt là “Bên A”) xuất khẩu 100 kg vàng vật chất cho người mua ở Thụy Sĩ (gọi tắt là “Bên B”). Sau khi nhận hàng và khấu trừ mọi chi phí phát sinh, Bên B sẽ ghi có số dư vàng vào tài khoản vàng (metal account) của Bên A mở trên sổ sách kế toán của Bên B.


Chi phí phát sinh do Bên A chịu bao gồm: (i) phí tinh luyện nếu lô hàng có hàm lượng dưới 99,99% (refining cost), (ii) phí giám định (assaying cost), và (iii) phí nghiệp vụ (handling cost). Để đơn giản hóa ví dụ, giả định tổng chi phí của lô hàng là 1 kg vàng.


Vậy, số lượng 100 kg vàng vật chất sẽ được chuyển hóa hình thái thành số dư 99 kg vàng tài khoản. Thị trường tài chính quốc tế gọi vàng tài khoản là “loco London gold” (loco: viết tắt của chữ location, nghĩa là địa điểm), tức vàng tinh chất 99,99% đạt tiêu chuẩn quốc tế có thể giao dịch tự do tại thị trường London (Anh).


Từ hình thái ban đầu là vàng vật chất có tính năng như hàng hóa (commodity) ẩn chứa nhiều chi phí và rủi ro trong giao dịch (như kiểm đếm, lưu kho, vận chuyển, bảo hiểm, an ninh, thất lạc, mất mát, nhân công…), nay vàng tài khoản trở thành một công cụ có tính thanh khoản cao (liquidity) với đầy đủ tính năng như tiền tệ (currency), có thể dễ dàng thực hiện nhiều nghiệp vụ như: (i) chuyển khoản vàng (gold transfer), (ii) gửi vàng (gold deposit), (iii) ký quỹ (gold margin), (iv) cho vay (gold lending), (v) thế chấp (gold collateral), và (vi) mua bán (gold trading)…


Trở lại ví dụ  trên, sau khi Bên B báo có số dư vàng cho Bên A, lúc này số dư vàng hạch toán trên tài khoản cũng hoàn toàn tương tự như số dư tiền gửi hạch toán trên tài khoản. Nói cách khác, Bên A là chủ sở hữu số dư vàng, còn Bên B là người đang nợ số dư vàng đó.


Với tư cách là chủ sở hữu số dư vàng, Bên A có thể ra lệnh điều chuyển vàng sang nơi khác hoặc bán số dư vàng lấy USD. Với số dư USD này (giống như thu ngoại tệ hàng xuất), Bên A có thể tùy nghi sử dụng phù hợp với quy định quản lý ngoại hối hiện hành hoặc có thể bán USD lấy VND, mang VND gửi ngân hàng hoặc rút VND tiền mặt nộp quỹ công ty mình. 


Quy trình xuất khẩu vàng nói trên cho thấy bước khởi đầu là vàng thực và bước cuối cùng là tiền thực, dù tiền USD hay tiền VND. Vậy, với điểm xuất phát và điểm kết thúc đều là thực, nếu xem vàng trên tài khoản là vàng ảo, liệu có thể chấp nhận cách lập luận thiếu thuyết phục rằng để có thể xuất khẩu vàng thực nhằm thu về ngoại tệ/nội tệ thực, phải trải qua một công đoạn “ảo hóa vàng” trước, rồi mới có thể “thực hóa tiền” sau? 


Xét một khía cạnh khác, với số dư vàng sẵn có trên tài khoản chưa sử dụng hết, nếu cần thanh khoản vàng vật chất trong nước, Bên A có thể yêu cầu Bên B chuyển vàng về Việt Nam thông qua nghiệp vụ hoán đổi vàng vật chất (physical gold swap). Theo đó, Bên A chốt giá bán cho Bên B số dư vàng tài khoản cụ thể, đồng thời chốt giá mua của Bên B số lượng vàng vật chất tương ứng. Giá bán vàng tài khoản và giá mua vàng vật chất trong trường hợp này là cùng một giá (tức Bên A không phải trả chênh lệch giá cho Bên B).


Tuy nhiên, để có thể sở hữu vàng vật chất, Bên A phải trả cho Bên B phí chuyển đổi hình thái từ vàng tài khoản sang vàng vật chất mà thuật ngữ tài chính gọi là phí nhận vàng vật chất (physical premium). Về bản chất, phí nhận vàng vật chất bao gồm: (i) phí chế tác, (ii) phí vận chuyển, và (iii) phí bảo hiểm.


Với tính năng chuyển đổi dễ dàng từ số dư vàng tài khoản thành số lượng vàng vật chất nói trên, không thể gọi vàng tài khoản là vàng ảo được. Nếu vàng trên tài khoản là ảo, thì tiền VND, tiền USD hoặc bất cứ loại tiền tệ nào khác trên tài khoản cũng ảo nốt.


Tới đây, ta thấy rõ tính chất chuyển hóa linh hoạt từ hình thái vàng tài khoản sang hình thái vàng vật chất và ngược lại, tương tự như sự chuyển hóa linh hoạt hai chiều từ tiền mặt thành tiền gửi ngân hàng. Tiền hay vàng nằm trên tài khoản cùng với tính thanh khoản và tính lưu thông thuận tiện của chúng là một phát minh vĩ đại của con người thông qua sự ghi chép sổ sách của hệ thống kế toán.


Tóm lại, trên các thị trường tài chính tiên tiến trên thế giới, vốn đã đi trước Việt Nam hàng trăm năm cũng không có khái niệm vàng ảo. Đôi khi người ta thay thế thuật ngữ “loco London gold” bằng từ ngắn gọn “paper gold”, tức vàng trên giấy tờ sổ sách.


Vì vậy, cần loại bỏ khái niệm “vàng ảo”, mà chỉ nên sử dụng khái niệm vàng tài khoản. Muốn sáng tạo ra một khái niệm mới trong kinh tế, phải hiểu rõ và phản ánh đúng bản chất vấn đề. Ngoài chữ vàng tài khoản ra, có thể sử dụng hai thuật ngữ khác để có thể thay thế như: (i) vàng ghi sổ, (ii) vàng bút tệ. 


Về bản chất các thuật ngữ này đều có nội hàm như nhau, và quan trọng hơn hết chúng đều là vàng thực, vì xuất phát điểm cốt lõi của chúng đều dựa trên một tài sản nền có thực (real underlying asset), đó là vàng vật chất có trong tự nhiên.


Trường hợp 2: Kinh doanh vàng ký quỹ không phải là ảo


Kinh doanh vàng dưới hình thức ký quỹ phi tập trung (gold margin trading) hoặc dưới hình thức ký quỹ tập trung tại sàn vàng (gold trading exchange) có sử dụng đòn bẩy tài chính (financial leverage) là một trong những phương thức đầu tư vàng tiên tiến nhất trên thế giới thay cho cách mua bán vàng vật chất vốn ẩn chứa nhiều bất tiện và rủi ro. 


Lợi ích của kinh doanh vàng ký quỹ tập trung tại sàn là:


- Tạo cơ hội kinh doanh trong nước cho nhà đầu tư một cách minh bạch thay cho kinh doanh trên mạng quốc tế một cách lén lút.


- Không đòi hỏi nhiều vốn, chỉ yêu cầu thanh toán một khoản ký quỹ ban đầu (initial margin) thay vì 100% giá trị giao dịch.


- Xác định mức lỗ tối đa khi mở trạng thái.


- Tự quyết định mức giá đặt lệnh, và cơ chế khớp lệnh liên tục giúp gia tăng tính thanh khoản của thị trường.


- Việc thanh toán mua bán sẽ được thực hiện bằng cách ghi nợ/ghi có trên tài khoản, giúp giảm thiểu rủi ro tác nghiệp (sai sót trong kiểm đếm, giao nhận, thất lạc hoặc mất mát tiền/vàng), rủi ro thanh toán, rủi ro đối tác so với cách thức giao dịch vàng vật chất ngoài thị trường.


- Nhà nước dễ dàng đo lường quy mô giao dịch của thị trường và có thể áp dụng thu thuế đối với nhà đầu tư và đơn vị tổ chức sàn khi cần thiết.


Vừa qua, có một số ý kiến cho rằng kinh doanh vàng ký quỹ với tỷ lệ ký quỹ ban đầu cao hơn 90% trên tổng quy mô trạng thái 100% mới là không “ảo”. Nếu tỷ lệ ký quỹ ở mức thấp 5% chẳng hạn, phần đòn bẩy tài chính 95% dưới hình thức cho vay được xem là “ảo”. Có thể tóm tắt ý chính của lập luận này là “ảo xảy ra khi tỷ lệ ký quỹ thấp và tỷ lệ cho vay cao”.


Trước tiên, có thể khẳng định ngay rằng kể cả khi mức tỷ lệ ký quỹ giảm xuống dưới 1% cũng không phải là ảo. Về bản chất, tỷ lệ ký quỹ chính là hạn mức chặn lỗ (slop loss limit) của nhà đầu tư. Nếu giá vàng biến động trái với kỳ vọng, nhà đầu tư chỉ lỗ đúng phần tiền đã ký quỹ, không phải lỗ toàn bộ 100% tổng quy mô trạng thái. Tỷ lệ ký quỹ dù ở mức độ nào cũng chỉ là thỏa thuận tự nguyện đã ghi trong hợp đồng giữa nhà đầu tư và đơn vị quản lý sàn.


Trước khi có công cụ kinh doanh vàng ký quỹ trên sàn, nhà  đầu tư đã thực hiện kinh doanh vàng truyền thống dưới hình thức vay nợ ngân hàng và thế chấp bằng tài sản hình thành từ nợ vay từ hàng chục năm qua.


Ví dụ, nhà đầu tư muốn đầu tư giá xuống, đến ngân hàng vay vàng, bán vàng cho ngân hàng lấy VND, dùng VND thế chấp tại ngân hàng với tỷ lệ giải ngân theo hạn mức tín dụng do ngân hàng quy định. Nếu ngân hàng duyệt cho vay 95%, nhà đầu tư phải chuẩn bị vốn tự có 5% mới có thể thực hiện giao dịch. Giả sử giá vàng giảm như dự đoán, nhà đầu tư sẽ mua vàng trả nợ cộng lãi vay cho ngân hàng và hưởng lợi nhuận chênh lệch giá vàng. 


Về bản chất, cách thức kinh doanh vàng truyền thống và kinh doanh vàng ký quỹ trên sàn là hoàn toàn giống nhau. Vốn tự có 5% chính là tỷ lệ ký quỹ của nhà đầu tư, tỷ lệ giải ngân 95% chính là đòn bẩy tài chính mà ngân hàng cung ứng cho khách hàng. 


Nếu xem kinh doanh vàng với tỷ lệ ký quỹ thấp là “ảo” và giả sử nhà đầu tư nhận định đúng xu hướng giá và thu được lợi nhuận cụ thể, liệu phải giải thích như thế nào khi kinh doanh vàng “ảo” mà lại cho ra kết quả lãi “thực”? 


Nếu xem đòn bẩy tài chính 95% trong kinh doanh vàng ký quỹ là “ảo”, vậy tỷ lệ giải ngân 95% trong kinh doanh vàng truyền thống từ trước đến nay là “ảo” hết hay sao? 


Hơn 10 năm qua, phần lớn các ngân hàng và doanh nghiệp kinh doanh và cho vay vàng theo cách truyền thống đều có lãi với số liệu hạch toán, kiểm toán minh bạch. Lãi này được phân bổ thành nhiều khoản mục, trong đó có thuế nộp ngân sách và cổ tức trả cho cổ đông. Chẳng lẽ các ngân hàng và doanh nghiệp kinh doanh vàng nộp ngân sách “ảo” và trả cổ tức “ảo”? 


Tất cả các trạng thái kinh doanh vàng ký quỹ khi chưa tất toán sẽ  ở trong tình trạng lãi/lỗ tiềm năng (potential loss/profit), nhưng khi đã đóng toàn bộ trạng thái, kết quả chung cuộc sẽ là lãi/lỗ thực tế (realised loss/profit) hoặc hòa vốn (break-even), không có lãi/lỗ ảo ở đây. 


Tỷ lệ ký quỹ nhiều hay ít, cao hay thấp không liên quan gì đến khái niệm “ảo”. Điều cốt lõi cần thảo luận ở đây đó là để hạn chế tình trạng đầu tư quá mức trong hoạt động kinh doanh vàng ký quỹ, nên quy định chặt chẽ về: (i) mức tỷ lệ ký quỹ hợp lý, (ii) đối tượng khách hàng tham gia, (iii) quy mô tối đa của một giao dịch, (iv) quy mô tổng trạng thái tích lũy tối đa, (v) tổng dư nợ tín dụng tối đa, (vi) cách thức bảo hiểm rủi ro, và (vii) hình thức xử lý vi phạm. 


Trường hợp 3. Quy định “không được rút vàng, chỉ được rút VND” không phải là ảo


Có một vài nhận xét cho rằng nếu nhà đầu tư có trạng thái dương vàng trên sàn, nhưng không được rút vàng, mà chỉ được rút VND hoặc rút vàng trả phí, đó là kinh doanh vàng ảo.


Ngược lại, nếu nhà đầu tư được rút vàng bất cứ lúc nào, đó mới là không ảo. Nói ngắn gọn, theo lập luận này “ảo tức là không được rút vàng ra khỏi sàn”. 


Tới đây, cần nhấn mạnh một lần nữa rằng hình thái vàng tài khoản (hoặc vàng trên sàn) và hình thái vàng vật chất là hoàn toàn khác nhau. Sự khác nhau về hình thái này tất yếu dẫn đến chi phí vận hành và quản lý đối với chúng cũng khác nhau. Vì vậy, với số dư vàng trên sàn, muốn rút ra dưới dạng vật chất, chắc chắn sẽ phải trả một khoản phí, giống như “phí nhận vàng vật chất” như đã nêu trong trường hợp 1.


Có thể dẫn chứng một trường hợp tương tự về tiền mặt và tiền chuyển khoản. Một ngân hàng Việt Nam có số dư USD trên tài khoản nostro ở nước ngoài, muốn rút ngoại tệ tiền mặt phải trả phí cho ngân hàng nước ngoài. Cứ 1 USD chuyển khoản chỉ đổi được hơn 0,9 USD tiền mặt. 


Có một vài nguyên nhân chính về điều khoản “không cho rút vàng”:


- Chi phí lưu kho, bảo quản, vận chuyển… rất tốn kém.


- Tính thanh khoản đặc thù của vàng vật chất là rất kém so với tiền.


- Chính sách xuất nhập khẩu vàng chưa được tự do hóa, tức phải thông qua cơ chế cấp hạn ngạch (quota). Trong điều kiện đặc thù như thế, một khi chính sách chưa giải quyết quy luật cung-cầu vàng ở tầm vĩ mô, không có bên tham gia thị trường nào có thể tự xoay xở đầy đủ nguyên liệu vàng đầu vào để gia công, chế tác thành vàng vật chất cho nhà đầu tư.


Vào thời kỳ giữa những năm 1985, có trường hợp cá nhân và doanh nghiệp đã gửi tiền vào ngân hàng và không thể rút ra theo nhu cầu, nhưng không ai gọi đó là “tiền ảo”, vì người dân hiểu rằng trong từng điều kiện kinh tế đặc thù, việc điều hòa lưu lượng tiền mặt cho cả nền kinh tế đôi khi có những bất cập trong tác nghiệp. 


Tương tự như thế, sự “không-được-rút-ra” đối với vàng không phải là ảo. Điều khoản này phản ánh một thỏa thuận tự nguyện ghi rõ trong hợp đồng giữa nhà đầu tư và đơn vị tổ chức sàn. Nếu thấy điều khoản này bất tiện, nhà đầu tư không nên ký hợp đồng. Nếu thực sự có nhu cầu sở hữu vàng vật chất, nhà đầu tư hoàn toàn có thể tìm đến cách thức giao dịch ngoài sàn như từ trước đến nay. Với điều khoản “không cho rút vàng”, chỉ có thể nói đơn vị tổ chức sàn có sự bất cập trong việc quản lý thanh khoản vàng vật chất.


Thậm chí trong tương lai nếu Nhà nước cho phép tự do hóa luồng dịch chuyển vàng ra vào (free inflows and outflows of gold) trong đó có tự do hóa xuất nhập khẩu vàng như Thái Lan chẳng hạn, mà các đơn vị kinh doanh vàng vẫn áp dụng điều khoản “không cho rút vàng”, điều đó vẫn không phải là ảo. 


Tóm lại, có thể kết luận rằng về bản chất các hình thức kinh doanh vàng đã nêu trong bài phân tích này đều là vàng thực, vì các nhà đầu tư đều kinh doanh trên một tài sản nền có thực.


Trong lúc trà dư tửu hậu ngoài xã hội, có thể nói vui “trong thực có hư, trong hư có thực, thực thực hư hư, hư hư thực thực”. Tuy nhiên, trong kinh doanh và quản lý kinh tế, không thể dung nạp các khái niệm nước đôi theo kiểu “vừa thực, vừa ảo” đan xen lẫn lộn.


Vì vậy:


- “Vàng tài khoản” không phải là ảo, vì đó là một hình thái thể hiện của vàng được ghi chép theo đúng bản chất của sổ sách kế toán.


- “Tỷ lệ ký quỹ thấp” không phải là ảo, vì đó là phần rủi ro tối đa mà nhà đầu tư đã xác định, đối ứng với hạn mức tín dụng mà ngân hàng xét duyệt.


- Điều khoản “không được rút vàng” không phải là ảo, vì điều đó vừa thể hiện một thỏa thuận tự nguyện giữa các bên tham gia ký kết hợp đồng, vừa phản ánh đúng bản chất về tính thanh khoản kém của thị trường vàng trong nước, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế khách quan.


Muốn viết đúng về thị trường vàng, việc trang bị kiến thức cơ bản và cơ sở lý luận là điều cần thiết. Để quản lý và phát triển thị trường vàng một cách minh bạch và hiệu quả, nên tiếp nhận nhiều ý kiến phản biện đa chiều được tích lũy từ những kinh nghiệm thực tiễn, đồng thời đối chiếu với các loại sản phẩm/dịch vụ tiên tiến về vàng trên thế giới mà ta chưa áp dụng, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp đồng bộ để từng bước tiến tới việc thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển của thị trường vàng trong nước so với khu vực, phù hợp với xu thế mở cửa hội nhập ngày càng sâu rộng. 


Không có con đường tắt nào vạch sẵn ở phía trước. 

* Tác giả bài viết là Giám đốc Trung tâm Vàng Ngân hàng Á Châu (ACB)
Hướng dẫn mở tài khoản kinh doanh vàng trực tuyến => mo-tai-khoan-kinh-doanh-vang-truc-tuyen
Tham khảo thêm

Ngân hàng Nhà nước mở lại Vàng Tài Khoản

Ngân hàng Nhà nước chính thức mở lại Vàng Tài Khoản. Người trong cuộc xem đây là một công cụ chính yếu cho giải pháp mới bình ổn thị trường.
Cuối ngày 6-10-2011, Ngân hàng Nhà nước đã chính thức ban hành thông tư quy định về việc chấm dứt hoạt động huy động và cho vay bằng vàng của các tổ chức tín dụng; cùng với đó là cơ chế mở tài khoản vàng ở nước ngoài để cân bằng trạng thái nhằm bảo hiểm rủi ro biến động giá vàng. 
Cơ chế trên được mở cho 5 ngân hàng thương mại lớn, có hoạt động ngoại hối mạnh là Eximbank, Techcombank, Sacombank, DongA Bank và ACB. Hợp lực với nhóm ngân hàng này là Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) - đầu mối chiếm thị phần lớn nhất, có hệ thống phân phối mạnh nhất trên thị trường vàng Việt Nam hiện nay.
Trao đổi với VnEconomy, ông Nguyễn Thành Long, Tổng giám đốc SJC, cho biết giải pháp trên do Ngân hàng Nhà nước đưa ra và định hướng, dựa trên cơ sở thực tế của thị trường thời gian qua và tập trung vào mục tiêu tạo điều kiện lưu thông trên thị trường.
Điểm chính ở đây là Ngân hàng Nhà nước cho phép mở tài khoản vàng ở nước ngoài đối với 5 ngân hàng thương mại. 
Ý của Ngân hàng Nhà nước ở đây là kết hợp hai nguồn lực, giữa nhóm ngân hàng này với SJC, qua nghiệp vụ vàng tài khoản để cùng đồng loạt bán vàng ra với mức giá hợp lý bình ổn thị trường.
Sự hợp lực đó có từ 5 ngân hàng có hoạt động kinh doanh ngoại hối mạnh với một doanh nghiệp đầu mối có năng lực sản xuất cao, hệ thống phân phối lớn và thương hiệu mạnh trên thị trường.

Ông Long nhìn nhận rằng,
Hoạt động đồng loạt bán ra nói trên vừa mới thực hiện trong ngày hôm nay (6-10-2011) nhưng đã cho kết quả khả quan. 
Tuy nhiên, về lâu dài thì giải pháp phối hợp này cần một nguồn lực đủ mạnh, có sự thống nhất cao giữa các bên tham gia. 
Nếu sự phối hợp và thực hiện nửa vời thì hiệu quả sẽ không như mong muốn. Và cũng cần có thời gian để có những đánh giá đầy đủ.
Trong ngày đầu tiên thực hiện, giá vàng trong nước có đà giảm khá mạnh, mức giá cao hơn thế giới cũng đã rút xuống còn khoảng 1,7 triệu đồng/lượng thay vì trên 2 triệu đồng, thậm chí trên 4 triệu đồng trong những ngày gần đây.

Về phía các ngân hàng thương mại, trao đổi với VnEconomy, ông Trương Văn Phước, Tổng giám đốc Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) khá thận trọng khi cho rằng: việc điều tiết thị trường vàng một cách ổn định, cũng như chống vàng hóa, đô la hóa trong nền kinh tế cần có một quá trình. 
Nhưng lúc này, giải pháp trên được đưa ra là cần thiết để nhanh chóng can thiệp, rút ngắn chênh lệch giá trong nước với thế giới kéo dài như vừa qua. 
Ở đây, các ngân hàng tham gia là tự nguyện, cần phải liên minh các nguồn lực đó để bảo vệ người dân trước những biến động bất ổn trên thị trường này. 
Với mục đích đó, tôi cho rằng khi các ngân hàng tham gia, cũng như Eximbank, sẽ không đặt mục tiêu lợi nhuận hay chạy theo kinh doanh như những hoạt động thông thường. 
Quan trọng nhất vẫn là cùng thực hiện mục tiêu ổn định được thị trường vàng, gián tiếp hỗ trợ giữ ổn định các vấn đề khác liên quan.
Cũng theo ông Phước, qua giải pháp này của Ngân hàng Nhà nước, một lần nữa vai trò của Vàng Tài Khoản cần được nhìn nhận lại và khai thác những giá trị của nó. 
Ở đây, vai trò đó là tạo sự liên thông với thị trường thế giới, để cân bằng trạng thái nhằm bảo hiểm rủi ro biến động giá vàng như Ngân hàng Nhà nước lý giải khi mở lại cơ chế.
Trước đây, hoạt động vàng tài khoản của các tổ chức tín dụng đã được triển khai từ năm 2004. Tuy nhiên, trong những năm 2008 - 2009, trước sự bùng nổ của các sàn giao dịch vàng “ăn theo”, những hệ lụy của sự bùng nổ đó dẫn đến việc Ngân hàng Nhà nước quyết định chấm dứt hoạt động này tại các tổ chức tín dụng.

Nay, vàng tài khoản đã được mở lại, được xem là một công cụ chính yếu trong giải pháp bình ổn thị trường nói trên. Theo đó, những giá trị và vai trò tích cực của vàng tài khoản đã được “minh oan” thay vì bị xem như là một đầu mối gây bất cập và bị cấm như vừa qua.

Dĩ nhiên, khi mở lại như hiện nay, Ngân hàng Nhà nước chỉ mở cho một số ít tổ chức tín dụng, có cơ chế và các điều kiện ngặt nghèo quy định trong thông tư vừa ban hành để bảo đảm an toàn và hạn chế những phát sinh ngoài mong muốn.
Nguồn => minh oan cho vang tai khoan
Tham khảo thêm
=> www.jimmy-group.blogspot.com/2013/08/kinh-doanh-ky-quy-la-gi.html
=> www.jimmy-group.blogspot.com/2013/05/mo-tai-khoan-kinh-doanh-vang-truc-tuyen.html 
=> www.jimmy-group.blogspot.com/2013/07/chien-luoc-giao-dich-danh-cho-fxpro.html
=> www.jimmy-group.blogspot.com/2013/08/dich-vu-go-tai-khoan-chay.html
=> www.jimmy-group.blogspot.com/2013/05/nhung-tro-lua-dao-tren-thi-truong-forex.html 
=> www.jimmy-group.blogspot.com/2013/05/loi-tam-su-cua-jimmy.html 
=> www.jimmy-group.blogspot.com/2013/05/jimmy-group-la-gi.html
=> www.jimmy-group.blogspot.com/2013/05/tu-van-kinh-doanh-vang-vat-chat.html
=> www.jimmy-group.blogspot.com/2013/08/dich-vu-tu-van-luot-song-vang-sjc-sbv.html  

Thứ Ba, 30 tháng 7, 2013

Lời hứa của Thủ Tướng

Hứa trước Quốc hội hồi tháng 10 năm 2012, Thủ tướng có nói rằng Chính phủ sẽ đoàn kết nhất trí, hết lòng hết sức làm việc. Nhưng, lời hứa này, đang đứng trước nguy cơ tổn thương, bởi sự “lời qua tiếng lại” ngày càng gia tăng giữa các bộ.
Sự việc gần đây nhất, Ngân hàng Nhà nước đăng tải chính thức trên website của mình để bác bỏ phát ngôn của một thứ trưởng của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong cuộc họp báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh dịch vụ và đầu tư ngày 26/3/2013, về gói tín dụng 30.000 tỷ đồng dành cho đồng bằng sông Cửu Long.
Trong khi, sự việc lẽ ra chỉ cần hai “nhà” ngồi lại với nhau là đủ, chứ không nhất thiết phải ầm ĩ như vậy.
Câu chuyện có hay không sự tranh chấp thực hiện số định danh cá nhân giữa Bộ Tư pháp và Bộ Công an cũng là đề tài khiến dư luận đang bàn tán râm ran.
Bộ Công an thì cho rằng
“Đề án tổng thể đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân và các cơ sở dữ liệu quốc gia liên quan đến quản lý dân cư” do Bộ Tư pháp xây dựng có nhiều điểm trùng với Đề án xây dựng cơ sở dữ liệu dân cư quốc gia mà Bộ Công an đang triển khai.
Còn Bộ Tư pháp thì khẳng định “làm từ gốc”.
Tỏ ra nhanh chân hơn, ngày 19-3-2013, Bộ Tư pháp gửi thông báo rộng rãi cho giới truyền thông giới thiệu toàn bộ về đề án của bộ mình.
Một thành viên trong ban soạn thảo đề án của Bộ Tư pháp nói:
“Số định danh là số của Chính phủ nhưng Bộ Công an lại đang muốn làm theo hướng của riêng mình.
Chúng tôi xây dựng đề án này theo chỉ đạo của Chính phủ để điều chỉnh việc Bộ Công an đang làm”.
Đi sau một bước, trả lời báo chí ngày 25-3-2013, Thiếu tướng Trần Văn Vệ, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự an toàn xã hội (Tổng cục 7 - Bộ Công an) nhận định:
“Việc trùng nhau này có thể dẫn đến lãng phí, tốn kém ngân sách”.
Được đẩy lên cao trào như vậy, nên khi Cục trưởng Cục Kiểm soát thủ tục hành chính (Bộ Tư pháp) Ngô Hải Phan có “kết” lại rằng cả hai bộ Công an và Tư pháp cùng phối hợp thực hiện và sự phối hợp chặt chẽ giữa hai ngành Công an và Tư pháp theo tiến độ đề ra sẽ bảo đảm đến 2020, toàn bộ công dân nước ta đều có số định danh cá nhân, thì dư âm về sự “tranh giành” giữa hai bộ vẫn là khó phai.
Nổi tiếng với các phương án thu phí bất chấp sự phản ứng dữ dội từ dư luận, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Đinh La Thăng bỗng nhiên trở nên rất lắng nghe khi cho rằng “vì tiếp thu ý kiến của dân” nên ông quyết định rút lại đề xuất phạt xe không chính chủ.
Theo dự thảo Nghị định 71 được Bộ Giao thông Vận tải lấy ý kiến các ban ngành và người dân ngày 26-3-2013, nội dung phạt chủ phương tiện không chuyển quyền sở hữu phương tiện đã được bãi bỏ.
Mặc dù, trước đó, cả hai bộ Công an và Giao thông khi ngồi cùng nhau đều đã tỏ ra khá đồng thuận về quy định này.
Không giấu sự “tổn thương” khi trong chốc lát thành cô đơn như vậy, Bộ Công an thể hiện tinh thần quyết phạt.
Kết quả là do không thống nhất được hai bộ Công an và Giao thông trong việc loại bỏ hay duy trì quy định xử phạt hành vi không sang tên đổi chủ cho phương tiện, nên dự thảo tờ trình Thủ tướng Chính phủ, ban soạn thảo đã đặt quy định này trong nhóm các vấn đề còn có ý kiến khác nhau.
Lại có một “va chạm” khác.
Chiếc mũ bảo hiểm đã không chỉ còn là chiếc mũ, khi ngày 14-3-2013, Bộ Tư pháp ra thông cáo báo chí “bác” thông tư liên tịch giữa 4 bộ Khoa học và Công nghệ, Công Thương, Công an, Giao thông - Vận tải đã ký.
Bộ Tư pháp dẫn giải rành mạch:
Vừa qua liên Bộ Khoa học và Công nghệ, Công Thương, Công an, Giao thông - Vận tải đã ký Thông tư liên tịch số 06 ngày 28/02/2013 quy định về sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh và sử dụng mũ bảo hiểm cho người đi xe mô tô, xe gắn máy, xe đạp máy (sau đây gọi tắt là Thông tư số 06).
Sau khi ký Thông tư số 06, dư luận xã hội đã thể hiện việc không đồng tình với quy định
“Người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), xe đạp máy đội mũ bảo hiểm không phải mũ bảo hiểm quy định tại khoản 1 điều 3... khi tham gia giao thông sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ” (khoản 2 điều 10 Thông tư số 06)...
Sau khi khẳng định, quy định buộc người dân phải biết mũ thật, mũ giả và là căn cứ để xử phạt vi phạm hành chính nêu ra tại Thông tư số 06 là thiếu thuyết phục, Bộ Tư pháp có cho biết đã chủ trì cuộc họp với các cơ quan, tổ chức có liên quan để thống nhất dừng phát hành Thông tư này.
Bộ Tư pháp còn nêu rõ, tại cuộc họp đó, trong 4 bộ đã cùng tham gia đặt bút ký vào thông tư liên tịch, 3 bộ đều có đại diện đến dự, chỉ vắng đại diện Bộ Công an.

Thứ Bảy, 27 tháng 7, 2013

Thống đốc Nguyễn Văn Bình: nói giỏi !

Mấy ngày gần đây, dư luận đã và đang liên tục xôn xao bàn tán về vai trò, năng lực của các vị lãnh đạo ở nước ta, đặc biệt là khi đang có rất nhiều người ủng hộ việc cần có một danh hiệu để vinh danh những nhà quản lý tài ba - công bộc xuất sắc của nhân dân ví dụ như danh hiệu 'Công bộc Nhân dân'.
Đã có nhiều bài báo đưa ra đánh giá rất tốt và đề cử Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến và Bộ trưởng Giao thông vận tải Đinh La Thăng  bởi họ đang là 'tư lệnh' quản lý hai ngành vô cùng quan trọng của nước ta, hơn nữa, tên tuổi của cả hai hiện nay đã nổi như cồn bởi mọi phát ngôn, hành động của hai vị luôn gây được tiếng 'vang' lớn, trở thành tâm điểm của truyền thông và dư luận. 
Tuy nhiên, dường như đang có một thiếu sót rất lớn bởi không biết mọi người đã vô tình hay cố ý không nhắc tới Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình.
Người Việt Nam vẫn hay nói với nhau rằng với tất cả mọi việc, vấn đề quan trọng nhất bao giờ cũng phải là vấn đề đầu tiên, mà đầu tiên có nghĩa là tiền đâu. Điều này cho thấy đồng tiền có sức mạnh rất lớn, có thể chi phối rất nhiều vấn đề và người quản lý nó, tất nhiên cũng là nhân vật vô cùng quan trọng.

Trong tình hình kinh tế suy thoái hiện nay, khi cuộc sống của người dân đang bị bủa vây bởi trăm ngàn nỗi lo lắng, vật giá leo thang, thuế, phí chồng lên nhau cao ngất ngưởng... tình trạng này thậm chí đã khiến rất nhiều người không dám nhìn thẳng, đối diện với thực tế mà chủ yếu sống dựa vào niềm tin, vào ngày mai. Và Thống đốc Bình đã có công không nhỏ khi mang đến cho người dân nhiều lời hứa, để mọi người có thêm động lực sống và tiếp tục hy vọng vào mọi thứ tốt đẹp trong tương lai.

Cách đây không lâu, Thống đốc Bình đã hứa với Quốc hội và nhân dân sẽ đưa giá vàng trong nước về sát giá thế giới. Khỏi phải nói, lời hứa ấy có tác dụng với người dân như thế nào, bởi trong đời ai chẳng có ước mơ sở hữu một ít vàng. Vàng không chỉ là biểu tượng cho quyền lực mà còn thể hiện sự no đủ, sung túc và nếu giá vàng xuống thấp, mỗi người dân đều có vài cây để trong két sắt thì Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành đất nước hạnh phúc nhất thế giới. 
Và hiện nay, sau hơn một năm thực hiện, chênh lệch giá vàng đã được đẩy lên tới vài triệu đồng mỗi lượng, trong thời điểm hiện nay ổn định ở mức chênh từ 4-5 triệu đồng/lượng so với giá thế giới. 
Mọi người cho rằng đó là thất bại ư? 
Tất nhiên không, đó là thành công chứ bởi ít nhất có thời điểm giá vàng đã xuống chỉ còn cách thế giới hơn 3 triệu. 
Không những thế, Thống đốc còn là người có vai trò không nhỏ trong việc mang đến cho người dân một quan niệm mới 'vàng chính chủ'. 
Sự ra đời của vàng chính chủ không những góp phần thực hiện mong muốn của các vị lãnh đạo ngành Ngân hàng là có thể ổn định giá vàng, chống buôn lậu mà dường như còn chống luôn cả việc người dân mua bán các loại vàng khác, vàng kém ngoài SJC, quả thật là nhất cử lưỡng tiện.
Và việc làm quan trọng nhất mà Thống đốc Bình đã làm được trong thời gian vừa qua đó chính là giải cứu thị trường bất động sản, lo cho dân mảnh đất, ngôi nhà với gói giải cứu 30.000 tỷ đồng. Kinh tế khó khăn, 30.000 nghìn tỷ đâu phải là con số nhỏ. Vậy mà với sự quyết đoán và nhanh chóng của Thống đốc, số tiền lớn này đã nhanh chóng được bơm vào thị trường bất động sản.

Mặc dù hiện nay, theo thống kê, số lượng người được vay vốn sử dụng gói giải cứu này chưa đủ đếm trên đầu ngón tay nhưng nỗ lực và tinh thần vì nhân dân của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước là không thể phủ nhận.


Bên cạnh những đóng góp to lớn cho xã hội, hình ảnh Thống đốc bình còn lưu lại ở trong tâm trí người dân với những phát ngôn vô cùng ấn tượng, thể hiện bản lĩnh và tầm vóc của nhà quản lý lớn, công bộc hết lòng vì dân vì nước.


Ngày 13/11/2012, trong phiên chất vấn và trả lời chất vấn trước Quốc hội, trả lời câu hỏi chất vấn của đại biểu Trần Du Lịch (TP. HCM), Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình sau khi dẫn lại lý thuyết “bộ ba bất khả thi” nổi tiếng trong kinh tế học đã đạt giải Nobel (không thể đồng thời thực hiện chính sách tiền tệ để kiềm chế lạm phát, duy trì tăng trưởng và ổn định tỷ giá cùng lúc), Thống đốc Bình cho rằng mọi chính sách, đặc biệt là chính sách vĩ mô thì không thể nào đáp ứng được mọi yêu cầu.

“Người ta tìm ra bộ 3 bất khả thi giữa tăng trưởng, lạm phát và tỷ giá, ông đó được quốc tế cho giải thưởng Nobel. Vậy mà hiện nay chúng ta phải vừa làm sao kiềm chế được lạm phát mà vẫn phải tăng trưởng. Tôi đã có lần nói đùa với Chủ tịch Quốc hội là em chỉ cần nửa giải thưởng Nobel cũng được, nếu em làm được một trong hai”, Thống đốc Bình nói.
Thống đốc Bình còn một mặt nữa rất đáng được biểu dương tinh thần chính là luôn bền chí, hết lòng với nhiệm vụ dù những đóng góp của ông vẫn chưa được nhiều người nhìn nhận đúng. Sau khi biết mình là người xếp thứ 3 từ dưới lên trong danh sách tín nhiệm của đại biểu Quốc hội kỳ họp vừa rồi, Thống đốc đã mạnh mẽ đối diện với thực tế và phát biểu rằng:
“Giả sử chúng ta không làm gì cả, chúng ta yếu kém, nhận kết quả đánh giá như vậy thì đáng rồi, không còn gì bàn cãi. Nhưng thực tế là chúng ta đã nỗ lực phấn đấu, phát huy hết trí tuệ và đạt được những kết quả mà xã hội thừa nhận, cân đong đo đếm được. Đúng là có nỗi buồn vì chúng ta chưa được hiểu đúng”.
Vì vậy mà dù chưa được mọi người hiểu đúng, Thống đốc vẫn hăng say thực hiện các nhiệm vụ của mình, lãnh đạo ngành ngân hàng ổn định kinh tế, với mục tiêu đưa đất nước qua cơn khủng hoảng.

Với những đóng góp to lớn và phẩm chất đáng ghi nhận ấy, Thống đốc Nguyễn Văn Bình hoàn toàn xứng đáng với danh hiệu 'Công bộc Nhân dân'.

Nguồn => http://phunutoday.vn/xi-nhan/trai-hay-phai/201307/cong-boc-nhan-dan-noi-gioi-lam-nhanh-nhu-thong-doc-binh-2217757

Thứ Ba, 23 tháng 7, 2013

Vệ sinh công cộng trong khu phố

Dịch vụ vệ sinh công cộng trong khu phố mình đang ở hiện nay đang được thực hiện thực hiện bởi 1 công ty độc quyền nào đó mà mình chỉ biết đóng tiền chứ không hề biết họ là ai và không hiểu sao lại họ nắm rõ nhân khẩu trong căn nhà mà bạn đang ở còn rành rẽ hơn là chính bạn .
Hàng tháng, họ tới nhà thu tiền rác cứ 10,000 đồng/người??? Hoặc mỗi phòng trọ 15,000 - 20,000 đồng??? Cho dù là có rác để họ dọn dẹp hay không thì hàng tháng họ vẫn thu tiền đầy đủ??? 
Chưa hết đâu nhé, nếu rác của nhà bạn nhiều quá hoặc giả như là bạn muốn bỏ 1 cái nệm hay 1 bộ bàn ghế cũ thì họ sẽ không dọn rác cho bạn đâu nhé ??? Còn nữa nè, đội khi họ chỉ đem rác mà bạn đã làm rất gọn gàng còn chính họ lại xả rác nhỏ vương vãi khắp nhà bạn ??? 
Không rõ những đơn vị chuyên trách bảo vệ an ninh - tài sản của người dân như dân phòng - công an khu vực còn nắm rõ tình hình nhân khẩu không bằng một lực lượng công ích thì thật dễ hiểu cho những "mức lương khủng" hàng tỷ đồng mỗi năm của các vị lãnh đạo doanh nghiệp công ích đã bị phanh phui trong năm 2013 và sẽ còn nhiều vị lãnh đạo lãnh "lương khủng" không kém vẫn chưa bị vạch trần. Phải chăng, ngoài những loại thuế định danh vẫn còn rất nhiều loại thuế "không định danh" đang đè nặng lên cuộc sống của mỗi người dân.
Ôi, ở đâu có sự độc quyền là ở đó người dân chỉ làm chủ được mọi thứ ngoại trừ túi tiền phải móc ra dù muốn dù không để trả cho đơn vị độc quyền.

Thứ Hai, 15 tháng 7, 2013

Người dân trắng tay khi được đền bù

Dự án thuỷ điện Dăk Rin được triển khai trên hai địa bàn là huyện Kon Plong tỉnh Kon Tum và huyện Sơn Tây tỉnh Quảng Ngãi. 
Riêng tại Sơn Tây, nhiều người dân bị mất đất cho thuỷ điện tuy được đền bù tiền tỉ nhưng vẫn trắng tay bởi sự mưu mẹo của những người biết trước chủ trương.
Một cán bộ xã Sơn Liên (huyện Sơn Tây, Quảng Ngãi) chỉ tay vào ngọn núi và nói: 
“Nếu nhà báo trèo giỏi thì vô đó sẽ rõ”.
Thôn Nước Doa và thôn Tu Mít không điện, chưa làm đường. Đồng bào quanh năm sống với núi rừng. Anh Đinh Văn Ghành, trưởng khu dân cư là người có học thức nhất làng đón chúng tôi bên triền núi. Kể chuyện Nhà nước bồi thường và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người dân, anh Ghành nổi giận: “Cả núi rừng này là của Đ.T. Đ.T. nó lấy hết rồi. Nhà kia nhận một tỉ đồng, nó lấy hết, nhà kia mấy trăm triệu đồng nó cũng lấy hết. Bà H. – vợ cán bộ huyện cũng lấy hết đất của dân…” Trong danh sách những người đến thâu tóm đất của dân còn có các tên: V., U., cán bộ L. làm ở huyện...

Bà H. mà người dân đề cập là vợ của cán bộ Đ.D. Dư luận cho rằng, ông Đ.D. liên kết với người em của mình là Đ.T. gom phần lớn đất của dân nghèo. Ông Đinh Văn Đía ở thôn Tu Mít nhận được số tiền hơn 1 tỉ đồng. Một nửa tiền ông Đía được vận động gởi vào ngân hàng. Còn 500 triệu đồng ông Đía nói “đã giao cho bà H. vợ cán bộ huyện – người đã mua đất của ông cách đây hai năm”.

Được biết, năm 2007, dự án xây dựng thuỷ điện Dăk Rin được triển khai. Thông tin về việc các hộ dân nằm trong vùng lòng hồ sẽ được nhận tiền đền bù đất, chuyển đổi nghề nghiệp được cán bộ huyện nắm đầu tiên. Rất nhanh chân, một số cán bộ và người nhà đã săm soi bản đồ rồi mua hầu hết những thửa đất nằm ở vùng nước ngập với giá rẻ mạt.

Trong ngôi nhà nằm giữa xóm Nghèo thôn Nước Vương, ông Đinh Văn Rót, 80 tuổi nằm liệt dưới sàn nhà. Thỉnh thoảng ông nhét một tí thuốc bột màu nâu vào miệng và rên hừ hừ. Gia đình được bồi thường và hỗ trợ hơn 1 tỉ đồng. Nhưng giờ nằm liệt, ông không có đồng nào để mua thuốc uống. Trước đó, vào năm 1981, ông Rót và một số người dân ở Sơn Mùa đến xóm Nghèo định cư. Ông Rót khai phá được nhiều ruộng, rẫy, nhưng người con rể là Đinh Văn Nuôi nghe lời người ta lần lượt bán hết. Nuôi cho biết: “Mình nhận được 1,2 tỉ, nhưng mà cái sổ tiết kiệm đã bị vợ chồng Đ.T. nó giật rồi, mình buồn lắm. Nó cho lại mình 100 triệu đồng, mình trả nợ hết, giờ chỉ còn 2 triệu đồng”.

Nuôi trình bày: “Mình đã bán mười mấy đám rẫy cho vợ chồng Đ.T. Giá mỗi đám chỉ ngang với vài con gà, vài ché rượu, có cái 1 triệu đồng, có cái 3 triệu đồng”. Còn tại thôn Tu Mít, đồng bào thật thà kể lại: “Khi bà con trong làng uống rượu say thì ông Đ.T. nói mua. Có khi mua một đám, nhưng hôm sau ông Đ.T. chỉ tay nói tao mua hai đám rồi, cả cái rẫy này là của tao hết. Còn nhiều người khác nói là mua trồng keo, nhưng không thấy keo đâu hết”.

Đ.T. là người nơi khác đến định cư tại xã Sơn Liên. Trong bản tổng hợp kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án thuỷ điện Dăk Rin, hạng mục lòng hồ xã Sơn Liên, Đ.T. nhận được số tiền gần 2,8 tỉ đồng, là người nhận được nhiều tiền nhất. Đó mới là tiền theo sổ sách.

Già làng Đinh Văn Sỏ ở xóm Nghèo, thôn Nước Vương lắc đầu: “Tiếc lắm, mình với bà con không biết có dự án nên bán đất cho cán bộ huyện”. Già Sỏ là “địa chỉ vàng”, bởi là già làng thì không bao giờ dám nuốt lời khi đã bán đất. Ông Sỏ trình bày đã bán rẫy cho cán bộ L. công tác ở huyện Sơn Tây với giá hơn 10 triệu đồng. Khi nhận tiền đền bù cách đây nửa tháng, già làng đã trả cho ông L. 240 triệu đồng. Đi khắp các thôn Tu Mít, Nước Doa, cái tên “cán bộ L. mua đất của mình…” được người dân nhắc đến khá nhiều. Và khi hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện Sơn Tây tổ chức chi trả tiền đợt 1 vào ngày 25.6, những người xưng là chủ nợ xuất hiện. Lúc đó người ta mới nhận rõ mặt ai là người nhà cán bộ.

Mới đây, vào ngày 8.7.2013, tại trụ sở UBND huyện Sơn Tây, hội đồng bồi thường hỗ trợ và tái định cư huyện Sơn Tây tổ chức chi trả tiền bồi thường đất và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp đợt 2 cho người dân xã Sơn Liên. Chỉ còn 14 hộ nhận số tiền hơn 9,1 tỉ đồng, nhưng công an huyện phải huy động hơn mười cán bộ đến chốt trước cổng. Nhưng, nếu trong cổng là nơi có trật tự thì bên ngoài cổng hoàn toàn ngược lại.
Với những hộ dân nhận tiền, nhân viên ngân hàng lập tức đặt vấn đề gởi tiết kiệm, ít nhất cũng phải 50%, số còn lại mang về làm nhà, trang trải nợ nần. Nếu mang hết tiền ra khỏi cổng uỷ ban thì có nguy cơ bị cướp giật, bởi nhiều đối tượng tự xưng là chủ nợ đang nhăm nhăm đứng chờ bên ngoài vì cho rằng “họ thiếu nợ chúng tôi lâu rồi, bây giờ phải trả”. Đúng như vậy, khi anh Đinh Văn Non ôm cục tiền bước ra khỏi cổng UBND huyện thì cả chục người xông vào. Một cục tiền văng ra khỏi đám đông và rơi xuống đất, lập tức một đối tượng nhào tới nhặt rồi bỏ chạy. Con anh Non ôm lại được một bọc tiền trong bụng cắm đầu lao vào cổng UBND huyện khóc tức tưởi: “Gia đình tôi nghèo nhất xã. Hôm vừa rồi chỉ mới mua một con dao, hai con gà và 6kg mỡ heo. Nhưng bây giờ họ chặn đường và đòi 10 triệu đồng”.

Trước đó, vào ngày 25.6, ban bồi thường tổ chức chi trả tiền tại trụ sở UBND xã Sơn Liên (Sơn Tây), cảnh tượng diễn ra cũng hết sức hỗn loạn. 63 hộ sẽ được nhận hơn 32,3 tỉ đồng, nhưng đối tượng xưng là chủ nợ lên đến cả trăm người. UBND xã tổ chức chi trả tại tầng 2, lực lượng công an bảo vệ từ tầng 1 và khu vực trước sân. Nhưng khi nhiều người dân vừa cầm tiền ra khỏi cổng thì đã bị giật. Trong đó có đối tượng biết trước chủ trương làm thuỷ điện đã phỉnh mua đất của người dân giờ đến lấy tiền đền bù từ tay những người mất đất.
Ông Đinh Văn Trí, phó bí thư Đảng uỷ xã Sơn Liên vui mừng cho biết, người dân đã gởi 18,6 tỉ đồng vào ngân hàng. Ngân hàng được xem như lôcốt để bảo vệ tiền. Khi nhận được tiền, cán bộ ngân hàng có mặt và làm thủ tục ký gởi tại chỗ.
Nhưng, khi người dân cầm sổ ngân hàng ra khỏi trụ sở thì đã bị giật mất. Đinh Văn Lê là một trong nhiều nạn nhân. Vợ chồng Lê di dời từ xóm Nghèo ra khu tái định cư ở xã Sơn Liên. Nhà của cặp vợ chồng này rất giống chuồng gà. “Tiền của mày đâu, nhận được bao nhiêu?” Nghe hỏi, Lê nói với giọng buồn buồn: “Bữa sáng sớm đó nó xuống chở mình lên thị trấn, cho mình ăn một tô bún, mua cho vợ mình một bộ quần áo, cho mình vay 15 triệu đồng để về mua bò, mua một cái màn hình rộng. Nó chở mình tới chỗ nhận tiền rồi nó giật sổ ngân hàng của mình rồi. Khi nó giật sổ ngân hàng, mình chạy về làng khóc và nói với con là ba nhận tiền rồi nhưng không có nổi hai ngàn đồng để mua kẹo cho con”. Hỏi người giật tiền của Lê là người tốt hay xấu, Lê gật đầu khẳng định: “Nó là bạn mình, nó cho mình uống hai lần rồi, mỗi lần hai lon bia”. Lê trình bày được nhận hai ba trăm triệu đồng gì đó, nhưng thực ra, số tiền Lê được nhận là 882 triệu đồng, bà Rót vợ Lê là 543 triệu đồng. Nhiều người cho biết, Lê uống rượu suốt ngày nên chỉ cần ai cho chai rượu thì xin gì cũng dễ.
Còn anh Đinh Văn Sơn ở thôn Nước Doa, xã Sơn Liên đến giờ vẫn ngơ ngác và cho biết không biết báo cáo việc của mình cho ai. Theo anh Sơn, “Khi nhận tiền đền bù 369 triệu đồng, thì gởi ngân hàng một nửa, còn một nửa mang về. Nhưng vừa xuống tầng 1 của UBND xã thì đã bị giật mất sổ ngân hàng và lấy hết tiền. Mình không thiếu nợ ai hết, mà cũng không biết ai giật sổ của mình”. Anh Đinh Văn Ghành ở thôn Tu Mít nhận được 365 triệu đồng. Khi bước ra khỏi cổng, lập tức có đối tượng kè theo để “tính sổ chuyện mày thiếu tao”. Đối tượng tên Đ.T. đã lấy toàn bộ số tiền trên vì đã lừa được Ghành bán đất cách đây gần hai năm với giá 5 triệu đồng. Ghành là người có học, cán bộ khu dân cư của Tà Mít. Tuy nhiên, Ghành và nhiều người dân hoàn toàn mù tịt chuyện Nhà nước xây dựng thuỷ điện nên đất có giá trị.
Đi và gặp nhiều nhân chứng, chúng tôi ghi nhận rất nhiều người là nạn nhân như vậy. Tuy nhiên, sự can thiệp của lực lượng chức năng cũng chỉ mức độ.
Trung tá Trần Minh Thành, phó trưởng công an huyện Sơn Tây cho biết: 
“Dư luận đề cập rất nhiều việc người nhà cán bộ tham gia mua đất của đồng bào để hưởng lợi. Hiện nay công an chưa nhận được đơn tố cáo, nhưng sẽ tiến hành xác minh và làm rõ”.
Còn bí thư huyện uỷ Sơn Tây Đinh Kà Để nói 
“đã xác định một trường hợp người nhà của cán bộ tham gia chia tiền hỗ trợ của đồng bào”