Hiển thị các bài đăng có nhãn truc tuyen. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn truc tuyen. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Thương mại điện tử - Website bán hàng

Thương mại điện tử, hay còn gọi là e-commerce, e-comm hay EC, là sự mua bán sản phẩm hay dịch vụ trên các hệ thống điện tử như Internet và các mạng máy tính.
Thương mại điện tử dựa trên một số công nghệ như chuyển tiền điện tử, quản lý chuỗi dây chuyền cung ứng, tiếp thị Internet, quá trình giao dịch trực tuyến, trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), các hệ thống quản lý hàng tồn kho, và các hệ thống tự động thu thập dữ liệu. 
Thương mại điện tử hiện đại thường sử dụng mạng World Wide Web là một điểm ít nhất phải có trong chu trình giao dịch, mặc dù nó có thể bao gồm một phạm vi lớn hơn về mặt công nghệ như email, các thiết bị di động cũng như điện thoại. 
Thương mại điện tử thông thường được xem ở các khía cạnh của kinh doanh điện tử (e-business). Nó cũng bao gồm việc trao đổi dữ liệu tạo điều kiện thuận lợi cho các nguồn tài chính và các khía cạnh thanh toán của việc giao dịch kinh doanh.
E-commerce có thể được phân chia thành:
E-tailing (bán lẻ trực tuyến) hoặc "cửa hàng ảo" trên trang web với các danh mục trực tuyến, đôi khi được gom thành các "trung tâm mua sắm ảo". 
Việc thu thập và sử dụng dữ liệu cá nhân thông qua các địa chỉ liên lạc web. 
Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), trao đổi dữ liệu giữa Doanh nghiệp với Doanh nghiệp. 
Email và fax và các sử dụng chúng như là phương tiện cho việc tiếp cận và thiếp lập mối quan hệ với khách hàng (ví dụ như bản tin - newsletters) 
Việc mua và bán giữa Doanh nghiệp với Doanh nghiệp. 
Bảo mật các giao dịch kinh doanh.
Khi nói về khái niệm thương mại điện tử (E-Commerce), nhiều người nhầm lẫn với khái niệm của Kinh doanh điện tử (E-Business). Tuy nhiên, thương mại điện tử đôi khi được xem là tập con của kinh doanh điện tử. Thương mại điện tử chú trọng đến việc mua bán trực tuyến (tập trung bên ngoài), trong khi đó kinh doanh điện tử là việc sử dụng Internet và các công nghệ trực tuyến tạo ra quá trình hoạt động kinh doanh hiệu quả dù có hay không có lợi nhuận, vì vậy tăng lợi ích với khách hàng (tập trung bên trong).

Một số khái niệm thương mại điện tử được định nghĩa bởi các tổ chức uy tín thế giới như sau:
Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), "Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet". 
Theo Ủy ban Thương mại điện tử của Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) định nghĩa: "Thương mại điện tử liên quan đến các giao dịch thương mại trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các nhóm (cá nhân) mang tính điện tử chủ yếu thông qua các hệ thống có nền tảng dựa trên Internet."  Các kỹ thuật thông tin liên lạc có thể là email, EDI, Internet và Extranet có thể được dùng để hỗ trợ thương mại điện tử. 
Theo Ủy ban châu Âu: "Thương mại điện tử có thể định nghĩa chung là sự mua bán, trao đổi hàng hóa hay dịch vụ giữa các doanh nghiệp, gia đình, cá nhân, tổ chức tư nhân bằng các giao dịch điện tử thông qua mạng Internet hay các mạng máy tính trung gian (thông tin liên lạc trực tuyến). Thật ngữ bao gồm việc đặt hàng và dịch thông qua mạng máy tính, nhưng thanh toán và quá trình vận chuyển hàng hay dịch vụ cuối cùng có thể thực hiện trực tuyến hoặc bằng phương pháp thủ công."
Tóm lại, thương mại điện tử chỉ xảy ra trong môi trường kinh doanh mạng Internet và các phương tiện điện tử giữa các nhóm (cá nhân) với nhau thông qua các công cụ, kỹ thuật và công nghệ điện tử. Ngoài ra, theo nghiên cứu tại đại học Texas, các học giả cho rằng thương mại điện tử và kinh doanh điện tử đều bị bao hàm bởi Nền kinh tế Internet.
Theo nghị định 185/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có hiệu lực từ ngày 1-1-2014, sắp tới tất cả website bán hàng, website thương mại điện tử không đăng ký, thông báo với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền sẽ bị xử phạt từ 10-20 triệu đồng. Phạt tiền từ 20-30 triệu đồng khi thiết lập website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử mà chưa được xác nhận đăng ký theo quy định. Ngoài ra còn có thể đình chỉ hoạt động từ sáu tháng đến một năm, buộc thu hồi tên miền “vn” đối với những vi phạm tại các điều này. Riêng đối với các hành vi lừa đảo khách hàng trên website thương mại điện tử sẽ bị xử phạt từ 40-50 triệu đồng, buộc tịch thu tang vật và đình chỉ hoạt động thương mại điện tử từ sáu tháng đến một năm. Chưa kể website vi phạm phải cải chính thông tin sai sự thật, bị thu hồi tên miền và nộp lại số tiền thu được bất hợp pháp từ các hành vi lừa đảo đó.

Kể từ khi nghị định 185 có hiệu lực vào ngày 1-1-2014 đến nay, sau hơn một tháng đã có rất nhiều thương nhân, tổ chức, cá nhân kinh doanh trong lĩnh vực thương mại điện tử đăng ký, thông báo với Bộ Công thương. Đến giữa tháng 2-2014 đã có 2.153 website thương mại điện tử bán hàng và 446 website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử tiến hành các thủ tục thông báo, đăng ký với Bộ Công thương.

Theo quy định, danh sách các website bị phản ảnh hoặc vi phạm sẽ được công bố trên cổng thông tin quản lý hoạt động thương mại điện tử tại địa chỉ www.online.gov.vn. Do vậy, khi phát hiện các hành vi vi phạm như lập website thương mại điện tử không theo quy định của pháp luật; vi phạm về giao kết hợp đồng; lừa đảo trong thanh toán; kinh doanh hàng giả, hàng cấm, hàng kém chất lượng và một số hành vi lừa đảo khác liên quan đến thông tin cung cấp trên website, người dân có thể gửi thông tin phản ảnh cho chúng tôi tại địa chỉ trên. Việc cung cấp các thông tin này sẽ giúp cơ quan quản lý nhà nước có cơ sở để tiến hành kiểm tra, từ đó góp phần tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh trong lĩnh vực này. Bên cạnh đó, bản thân người tiêu dùng cũng cần cẩn trọng khi tham gia mua sắm trực tuyến, nên tìm hiểu kỹ các thông tin về website cung cấp dịch vụ, tìm hiểu về sản phẩm, giá cả, chất lượng trước khi đặt lệnh giao dịch. Trước khi tham gia mua hàng trên các trang mạng nên đối chiếu các trang này có đăng ký với cơ quan nhà nước hay không. Vì cũng như hoạt động mua bán ngoài đời thường, nếu người dân cứ ham rẻ không vào các khu chợ có đăng ký hoạt động mua bán mà mua ở “chợ trời”, tức các website trôi nổi, thì rất khó được bảo vệ quyền lợi khi xảy ra tranh chấp.

Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

Casino - sòng bạc tại Việt Nam

Hãng tin Reuters vừa dẫn một số nguồn tin nói rằng, Việt Nam có thể sẽ sớm nới lỏng hoạt động casino trong nước. Theo Reuters, Chính phủ đã tiến hành nghiên cứu và lên kế hoạch cho một dự án thử nghiệm cho phép người dân trong nước vào casino, bắt đầu từ một casino ở Vân Đồn (Quảng Ninh). Hiện casino này vẫn chưa được xây dựng
Cho tới nay, có một số casino hoạt động ở Việt Nam, nhưng chỉ mở cửa cho người nước ngoài.
Sự nới lỏng này, nếu xảy ra, được đánh giá sẽ thúc đẩy tạo việc làm, thúc đẩy hoạt động du lịch và tăng nguồn thu từ thuế trong nước, đồng thời có thể đưa Việt Nam trở thành một điểm đến hấp dẫn cho các công ty điều hành sòng bạc lớn của thế giới như Las Vegas Sands, Genting Bhd, Nagacorp và Penn National Gaming. Những công ty này đều đã lặng lẽ bày tỏ sự quan tâm tới thị trường Việt Nam nếu người Việt được phép vào casino.
Sức hấp dẫn của Việt Nam đối với các công ty casino còn đến từ những lợi thế về dân số và vị trí địa lý. Việt Nam chỉ cách nhiều thủ đô ở châu Á một vài giờ bay và rất gần Trung Quốc, nước có nhiều khách chơi bạc giàu có.  Ngoài ra, 2/3 dân số khoảng 90 triệu người của Việt Nam là dưới 30 tuổi, và dân số thuộc tầng lớp trung lưu của Việt Nam được dự báo sẽ tăng gấp đôi trong thời gian từ nay tới năm 2020 - theo một báo cáo mới đây của hãng tư vấn Boston Consulting Group.
Một số nhà điều hành trong ngành sòng bạc nói rằng:
Nếu điều kiện về pháp lý về casino được nới lỏng, Việt Nam có thể trở thành một trung tâm casino của khu vực, với tiềm năng doanh thu 3 tỷ USD mỗi năm. Con số này tương đương khoảng một nửa doanh thu ngành casino ở Singapore năm 2013, nhưng cao gấp 10 lần của Campuchia và ngang ngửa với doanh thu của ngành sòng bạc Philippines hay Hàn Quốc.
Ông Augustine Ha Ton Vinh, một nhà tư vấn về hoạt động sòng bạc, ước tính: 
Việt Nam đang mất khoảng 800 triệu USD tiền thuế mỗi năm từ những người Việt sang Campuchia chơi bạc. Khách Việt chiếm khoảng một nửa số khách tới các sòng bạc ở Campuchia. “Chính phủ đang tìm kiếm các nhà đầu tư và đối tác để khởi động dự án Vân Đồn”, ông Ha Ton Vinh cho biết bên thềm một diễn đàn ở Hồng Kông. “Từ năm 2003, Việt Nam đã cho phép các nhà đầu tư nước ngoài vận hành các phòng chơi bạc trong các khách sạn. Khách Trung Quốc và Đài Loan là những khách chơi thường xuyên”. Nguồn thu mới từ hoạt động sòng bạc sẽ đem lại lợi ích cho nền kinh tế đang tăng trưởng khoảng 5% của Việt Nam. Ngoài ra, kinh tế Việt Nam còn đang đối mặt với mức nợ xấu cao và sự cạnh tranh ngày càng mạnh trong khu vực để thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Chính phủ Việt Nam đã đề xuất lên Quốc hội một dự thảo luật về casino, trong đó các công ty casino nước ngoài muốn vào Việt Nam phải có tối thiểu 10 năm kinh nghiệm và vốn đầu tư không dưới  4 tỷ USD. Reuters cho biết, dự án casino Vân Đồn, nơi việc thử nghiệm cho người Việt Nam vào chơi bạc có thể diễn ra, có giá trị đầu tư lên tới 7,5 tỷ USD. Dự án này được dẫn đầu bởi “đại gia” Đào Hồng Tuyển và một công ty Mỹ ít tên tuổi là ISC Corporation. Công ty này dự kiến xây sòng bạc, bến tàu, trung tâm hội nghị, sân golf và câu lạc bộ tennis ở Vân Đồn.
“Lịch sử” ngành casino ở Việt Nam đến nay được ghi dấu bởi những dự án sòng bạc bị trì hoãn, hủy hợp đồng, cơ sở hạ tầng yếu kém và các vấn đề về vốn.
Với dự án casino Hồ Tràm ở Bà Rịa-Vũng Tàu, chủ đầu tư là công ty Asian Coast Development Limited (ACDL) của Canada có giấy phép đầu tư 4,2 tỷ USD để xây dựng một tổ hợp resort kiêm casino với 541 phòng, 90 bàn chơi bạc và 600 máy chơi bạc. Tuy nhiên, công ty MGM Resorts đã rút lui khỏi hợp đồng quản lý sòng bạc này ngay trước khi mở cửa vào năm 2013. 
Dự án sòng bạc lớn thứ hai của Việt Nam, ở Hội An, cũng đang bị đình lại. Công ty quản lý quỹ đầu tư VinCapital hiện đang nỗ lực để khởi động lại dự án 4 tỷ USD này, nhưng chưa tìm ra được một đối tác quốc tế mới nào sau khi đối tác Genting rút lui vào năm 2012. 
Tuy nhiên 5 sòng bạc nhỏ hơn khác lại ít nhiều gặt hái thành công. Trong đó phải kể tới dự án casino tại Lào Cai với 8 bàn chơi bạc, 34 phòng khách sạn và chỉ phục vụ khách Trung Quốc. 
Ông Ben Reichel, Giám đốc điều hành của Donaco, công ty vận hành song bạc này, nói rằng, các đại lý đánh bạc ở Trung Quốc cung cấp vốn tín dụng cho các khách chơi lớn tới đây. Mỗi khách chơi lớn tới sòng bạc Lào Cai mang theo tối thiểu 600.000 Nhân dân tệ, tương đương 99.000 USD mỗi người.
Các công ty sòng bạc lớn trên thế giới cho biết họ đang theo dõi chặt chẽ tình hình ở Việt Nam, nhưng vẫn chưa đặt cược vào sự thay đổi chính sách ở đây. Tỷ phú sòng bạc Mỹ Sheldon Adelson, CEO của Las Vegas Sands, đã tới Việt Nam 3 lần trong vòng 2 năm qua. Ông Adelson dự định xây sòng bạc ở Hà Nội và Tp.HCM, nhưng chỉ khi nào điều kiện hợp lý. MGM Resorts cho biết cũng đang chờ “cơ hội phát triển tương lai” ở Việt Nam, trong khi Genting nói sẽ không đầu tư vào Việt Nam chừng nào chính sách được nới lỏng. Ông Timothy Mc Nally, Chủ tịch Naga Corp., cho hay, công ty của ông sẽ rất vui mừng nếu Việt Nam, một “quốc gia rất quan trọng”, hợp thức hóa hoạt động casino.
(Nguồn: sưu tầm)
( Nguồn: w88 )

Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Thanh toán Quốc tế

Thẻ quốc tế Credit Card mang thương hiệu Visa, Master, JCB, Amercan Express… xuất hiện ở Việt Nam từ những năm 1990. Đến nay, sẽ không khó để bạn tìm thấy biểu tượng chấp nhận thanh toán qua thẻ quốc tế tại các cửa hàng, siêu thị, sân bay, trạm xe lửa… ở thành phố lớn hay website thương mại điện tử. Với loại thẻ này, bạn có thể thanh toán nhanh chóng, an toàn, tiện lợi, thủ tục mở thẻ dễ dàng, không giới hạn về mặt địa lý. Ước tính tới ngày 30/6/2013, số lượng thẻ quốc tế tại Việt Nam đạt mốc 3,5 triệu thẻ trong đó có 1,9 triệu thẻ ghi nợ và 1,6 triệu thẻ tín dụng - theo số liệu công bố của Vụ thanh toán (Ngân hàng nhà nước)Các loại thẻ này có thể hiểu nôm na như thẻ ATM của các ngân hàng ở Việt Nam. 

Nếu bạn là Người Thanh Toán bằng thẻ Visa cho một trang nào đó, đương nhiên là các trang này không thể có khả năng kiểm tra tính hợp lệ của tấm thẻ đó và trừ tiền trong thẻ đó được, do vậy ta phải thông qua 1 nhà trung gian có uy tín,gọi là gateway, nhiêm vụ của các gatewate là kiểm tra tính hợp lệ và trừ tiền cho thẻ đó (việc kiểm tra này sẽ diễn ra giữa nhà cung cấp gatewate với ngân hàng phát hành thẻ đó)
Có nhiều gateway khác nhau: paypal, google checkout, beanstream, linkpoint,....
Nếu bạn là Người Nhận Thanh Toán bạn cần có tài khoản Ngân hàng và 1 tài khoản gateway. Và các bước thanh toán sẽ được thực hiện như sau: 
- Khách hàng mua đồ bằng thẻ của họ, sẽ được gateway của người bán hàng kiểm tra, nếu hợp lệ thì số tiền bán hàng sẽ nằm trong tài khoản gateway của người bán. 
- Sau đó người bán muốn sử dụng tiền thì phải chuyển tiền từ gateway sang tài khoản Ngân hàng, và sử dụng.
Cách thức thanh toán trên website của bạn cũng theo quá trình: bạn nhận thông tin credit card khách hàng rồi chuyển sang gateway, gateway kiểm tra hợp lệ, trừ tiền sẽ trả thông tin giao dịch về cho website để website tạo giỏ hàng, giao hàng ,.... Và việc chuyển giao thông tin giữa website với gateway, có thể tiến hành theo 2 cách: trực tiếp và gián tiếp. 
- Gián tiếp ( còn gọi là Express): khi nhận thông tin thông tin credit của khách hàng , sẽ chuyển thông tin này thẳng sang trang gateway, và thanh toán trên trang gateway, sau khi thanh toán xong thì quay về webiste để tiến hành tạo giỏ hàng. (url khi thanh toán là url của gateway).  
- Trực tiếp ( thường gọi là API) cách này thì việc gửi thông tin, thanh toán do gateway thực hiện nhưng vẫn nằm trên trang của bạn, nghĩa gateway sẽ cung cấp cho bạn 1 API , sau đó bạn chỉ việc gửi dữ liệu qua các API mà không cần chuyển sang trang của gateway ( url của website).
Biểu mẫu: 

Số tiền tài trợ

Số tiền tài trợ

Số tiền tài trợ
Nếu gặp lỗi về đường truyền, bạn chỉ cần refesh lại trang và tiếp tục thực hiện thao tác.

Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2014

Biểu đồ Giá Vàng

Khi biểu đồ đã bị co lại thì bạn cần phải tắt trình duyệt, xóa lịch sử trong trình duyệt hiện tại sẽ khắc phục được tình trạng này. Nếu biểu đồ bị lỗi và khó khắc phục, bạn có thể sử dụng biểu đồ Spot Gold Price hoặc biểu đồ Kitco .


Hướng dẫn mở tài khoản kinh doanh vàng trực tuyến => mo-tai-khoan-kinh-doanh-vang-truc-tuyen

Thứ Hai, 30 tháng 12, 2013

Phần mềm Meta Trader 4 - MT4

Phần mềm Meta Trader 4 (được gọi tắt là MT4) là một phần mềm để giao dịch mua bán trực tuyến với giao diện thương mại từ đầu đến cuối dễ sử dụng. 
Phần mềm cung cấp các phân tích kỹ thuật, đồ thị điện tử và những công cụ kỹ thuật hỗ trợ với tính năng chuyên nghiệp đến mỗi khách hàng, hỗ trợ phục vụ phát triển chiến lược kinh doanh của từng khách hàng. 
Phần mềm Meta Trader 4 là phiên bản thứ 4 của phần mềm Meta Trader, là phiên bản thân thiện nhất đối với người sử dụng.
Giao diện phần mềm Meta Trader 4 – MT4:
Phần mềm Meta Trader 4 – MT4 gồm 5 phần:
_ Toolbars. 
_ Market Watch. 
_ Navigator. 
_ Trade Terminal. 
_ Chart.
1. Toolbars: chứa các thanh công cụ hổ trợ.
2. Market Watch:
_ Hiển thị giá cả được cập nhật liên tục của các cặp tiền, vàng,…. 
_ Khi muốn giao dịch bạn chỉ cần double click (nhấn 2 lần chuột trái) vào cặp tiền mà bạn muốn giao dịch hoặc right click (nhấn chuột phải) và chọn New Order.
* Order Form:
_ Symbol: ký hiệu các cặp tiền, vàng,….. 
_ Volume: số lượng lot. 
_ Stop loss: điểm dừng lỗ. 
_ Take profit: điểm lợi nhuận. 
_ Type:
+ Instant Execution: buy hoặc sell với giá tại thời điểm hiện tại.
+ Pending Order: chờ lệnh.
Buy Limit/Sell Stop: Dùng khi bạn dự đoán thị trường sẽ đi xuống. Tức là khi giá ở A thì bạn dùng cặp lệnh này đặt lệnh chờ ở A-n. 
Buy Stop/Sell Limit: Dùng khi bạn dự đoán thị trường sẽ đi lên. Tức là khi giá ở A thì bạn dùng cặp lệnh này đặt lệnh chờ ở A+n.
3. Navigator:

_ Account: thông tin tài khoản của bạn. 
_ Indicators: Liệt kê các indicators chuẩn. 
_ Expert Advisors: Hỗ trợ signal khi thị trường khớp với các chỉ số của bạn. 
_ Custom Indicators: người dụng chọn Indicators và các Indicators riêng của mỗi sàn (broker). 
_ Scripts: là những chương trình hỗ trợ giao dịch tự động do người dùng đặt ra.

4. Trade Terminal: quản lý hoạt động giao dịch.

_ Trade: những lệnh đang thực hiện.  
_ Account History: lược sử tài khoản. 
_ News: tin tức thị trường. 
_ Arlerts: thông báo về các Arlert mới tạo. 
_ Mailbox: thông tin từ sàn (broker).
5. Chart: biểu đồ thể hiện giá cả theo thời gian của các sản phẩm mà chúng ta có thể giao dịch ….
6. Tải phần mềm Meta Trader 4 => dowload MT4

7. Mở tài khoản giao dịch => hướng dẫn mở tài khoản giao dịch trực tuyến

8. Tư vấn viên hỗ trợ => +84 1992111199

Tham khảo thêm

Thứ Tư, 28 tháng 8, 2013

Game Online - Trò chơi trực tuyến

GameOnline, mình dùng từ ngữ toàn dân là Trò chơi Trực Tuyến, nói cách khác cho dễ hiểu, - Game có nhiều người chơi, có thể có hoặc không nhà phát hành và người chơi sẽ cùng chơi Game trên Server của nhà phát hành ( máy chủ ) .

GameOnline không nhất thiết phải là game trong nước , đối tượng người chơi không hạn định và tất cả đều theo thời gian thực.

Hiện nay có hai hình thức kinh doanh phổ biến dành cho GameOnline là :
1 . Thu phí bán đồ : vật phẩm hỗ trợ luyện cấp , vật phẩm đặc biệt, quần áo đẹp....... được mua bằng tiền trong Game hoặc tiền do game thủ nạp vào , đơn vị tiền thật game thủ nạp vào được quy ra thành 1 loại tiền trong game , như vcoin, Cash, Kim nguyên bảo . Đây là loại hình thu phí rất phổ biến ở Việt Nam . thường dành cho những game Free-to-play.  
2 . Thu Phí giờ chơi ( thu phí thời gian chơi) : là loại hình thường thấy ở gameOnline thế giới như WOW , game thủ sẽ phải trả 1 khoản phí cho thời gian mình Online vào game, thường tính bằng ngày , tháng , giờ . Ví dụ bạn nạp tiền 1 tháng, thì trong 1 tháng đó bạn có thể thoải mái chơi , và tháng sau nếu muốn tiếp tục tham gia game, người chơi sẽ phải nạp tiếp. Loại hình này không phổ biến ở Việt Nam

Game Online có tuổi thọ tùy theo sự khai thác và phát triển của nhà phát hành, nếu loại trừ vấn đề bản quyền.
1 . Game Online có tuổi thọ dài: nhà phát hành liên tục cập nhật sự kiện, Event cho các Gamer không chán , vài tháng lại Update liên tục , sẽ giữ lượng người chơi lâu dài vì còn sức hấp dẫn. 
2. Game Online tuổi thọ ngắn : thường là những GameOnline theo phong trào hoặc các NPH muốn kiếm lời thu hồi vốn nhanh, thường cập nhật rất nhiều lúc đầu khi phong trào còn sôi nổi, sau khi lượng người chơi giảm , NPH đã có lời và tuyên bố đóng cửa game , đây là loại hình dễ thu hồi vốn, tuy nhiên vẫn mang tính may rủi với nhiều NPH nhỏ và mới .

Thể loại GameOnline
1 . MMORGP : thể loại cực kì quen thuộc với game thủ Việt , là thể loại mở đầu cho sự phát triển mạnh GameOnline Việt Nam, cụ thể là Võ Lâm Truyền Kỳ do Vinagame phát hành vào thời điểm 4 năm trước. MMORGP định nghĩa ngắn gọn và dễ hiểu nhất là thể loại game Nhập vai trực tuyến, người chơi có thể điều khiển 1 nhân vật hoặc nhiều nhân vật , có hệ thống level , kỹ năng đa dạng, vật phẩm trang bị đa dạng , nhiều lớp nhân vật và có môi trường chiến đấu, phân chia đẳng cấp rất rõ ràng. Thường thì ở VN, thể loại này chú trọng cày cuốc lên level hơn là chơi để vui. Ông tổ của thể loại này là Diablo , có lẽ rất nhiều MMORGP về sau này sẽ không phát triển nếu không có Diablo.  
2 . FPSonline : thể loại bắn súng góc nhìn người thứ nhất nhiều người chơi , người chơi cùng thi thố tài năng của mình qua các Room , mỗi Room gồm 8-12 người , game thể loại này thường có kho vũ khí đa dạng , thậm chí với 1 số game còn có cả xe tank , trực thăng và máy bay chiến đấu. Game chú trọng kỹ thuật bắn súng hơn là đẳng cấp , trong game cấp hàm và đẳng cấp nhân vật không quan trọng lắm. Game tiêu biểu : CS Online , Call of duty 4 có phần chơi Multi tuyệt vời.  
3. Casual Online : thể loại này với phương châm "vui-là-chính" , đây là thể loại tốn rất ít thời gian của game thủ, chơi chủ yếu vui, dành cho giới làm ăn teen , trẻ em , hoặc người có quỹ thời gian hạn hẹp. những game như thế này không quan trọng đẳng cấp nhân vật và thời gian chơi, chủ yếu là cách chơi ! Thường những game như thế có rất nhiều vật phẩm hỗ trợ như quần áo đa dạng ( Audition .v.v.....) , thẻ tăng Level , và đủ thứ trang trí cho nhân vật nếu muốn, người chơi có thể chi tiền. Casual Online tiêu biểu : âm nhạc, giải đố, thể thao v.v..... 
4. Strategy Online : thể loại này đơn giản là dàn trận trực tuyến, chưa phổ biến ở Việt Nam. Ở đây, người ta vẫn chuộng DotA allstars hơn thể loại này. đòi hỏi đầu óc và tính toán cao, Game dành cho những người trí tuệ , đòi hỏi phải có tính toán và điều khiển hợp lý . Đây là 1 loại hình rất thú vị và còn chưa phát triển mạnh ở VN cũng như thế giới. Có lẽ vì cách chơi kén người và thời gian chơi khá cao.  
5. Web Game : người chơi có thể chơi game ngay trên web mà không cần cài đặt , đây là thể loại game gọn nhẹ, dành cho giới văn phòng , bất kì nơi đâu có trình duyệt web và internet là có thể chơi được game. Thể loại này phát triển nhưng chưa mạnh .

"Autoplay" là thế nào ? 
Phổ biến nhất hiện nay là phần mềm tự chơi game hay còn gọi là "Auto" "BOT" "v.v.... Phần mềm này giúp những người chơi không có nhiều thời gian mà vẫn muốn tham gia game, nói nôm na là khi kích hoạt lệnh đặt sẵn , nhân vật sẽ tự đánh, tự hồi máu và tự làm những thứ bình thường , hiện nay Auto đã tiến 1 đà rất xa , cho phép những hoạt động tích cực và thậm chí hoạt động như 1 người chơi.  
"Autoplay" còn có thể tích hợp sẵn trong game như Granado Espada , người chơi chỉ việc nhấn Space Bar để kích hoạt lệnh này , thoải mái với 1 tách cà phê cho đỡ căng thẳng. "Autoplay" cũng có 2 loại, 1 loại có bản quyền, thường được tích hợp trong game và loại không bản quyền , tức là do game thủ tự làm. NPH có thể cấm hoặc không cấm loại Soft này. Nói đến mặt tốt cũng nói đến mặt xấu, gameOnline hiện nay có nhiều phần tử "muốn hơn người" một cách thiếu chính chắn, họ đã lợi dụng lỗi game, dùng soft hack, tạo lỗi bug map.... khiến game trở nên mất vui và mất cân bằng. Làm đau đầu nhiều nhà phát hành, cụ thể là VTC. Vấn đề cuối cùng được đề cập đến đấy là giá vật phẩm bán trong gameOnline ở nước ta còn quá cao, và nhiều vật phẩm ảnh hưởng quá sâu đến game, lấy ví dụ như ép ngọc vào đồ trong TLBB, 1 viên ngọc cấp 5 có thể cộng chỉ số cao bằng nhiều cấp người chơi đạt được, lên 1 lv , các bạn chỉ có thể cộng tối đa 3 điểm cho nhân vật , trong khi 1 viên ngọc lại cộng được gấp chục lần như thế ? Thẻ tăng Level, vật phẩm nhân đôi kinh nghiệm quá cao , khiến game mất cân bằng. Nhiều game còn ép gamer mua đồ bằng tiền thật để mau chóng hoàn thành nhiệm vụ hoặc lên cấp nhanh ... khiến game mất đi tính hấp dẫn vốn có ...
Nguồn => World Online Game & Thế giới trò chơi trực tuyến

Thứ Hai, 12 tháng 8, 2013

Dịch vụ "gỡ tài khoản cháy"

Dịch vụ gỡ tài khoản cháy được định nghĩa là sự hỗ trợ của Jimmy Group đối với những tài khoản đã bị cháy(thua gần hết tiền trong tài khoản giao dịch của Nhà đầu tư)

Đặc điểm dịch vụ này là:


1- Jimmy sẽ giao dịch trên số tiền còn sót lại của tài khoản cháy


2- Nếu Jimmy giao dịch không hiệu quả, Nhà đầu tư phải bắt buộc chấp nhận mất thêm số tiền còn sót lại trong tài khoản


3- Nếu Jimmy giao dịch hiệu quả thì phần lợi nhuận, tức là số tiền thực tế trong tài khoản nhiều  hơn số tiền còn sót lại trước khi sử dụng dịch vụ này sẽ được chia theo tỷ lệ 50:50 và Nhà đầu tư sẽ thanh toán phần tiền phải trả cho Jimmy ngay thời điểm Jimmy yêu cầu rút tiền (phần tiền của Nhà đầu tư sẽ được rút theo visa và các thủ tục rút tiền của visa)


Yêu cầu:


1- Tài khoản của FxPro


2- Số dư tối thiểu 20 đô


3- Giao pass word đăng nhập website và phần mềm


4- Tự giám sát hoặc ủy quyền cho người giám sát việc giao dịch tài khoản của mình


5- Mang theo tiền mặt để chi trả dịch vụ này.


Quy trình thực hiện dịch vụ như sau:


1- Nhà đầu tư có nhu cầu sẽ gửi thư yêu cầu sử dụng dịch vụ tới địa chỉ email: lekimphuongminh@yahoo.com với nội dung như sau:

+ Thông tin đăng nhập website fxpro và thông tin đăng nhập tài khoản mt4 của fxpro 
+ Thông báo chính xác số tiền còn lại trong tài khoản trước khi sử dụng dịch vụ 
+ Cam kết chi trả 50% số tiền sau khi sử dụng dịch vụ(lấy history trước và sau khi sử dụng dịch vụ làm căn cứ) để chi trả ngay thời điểm Jimmy yêu cầu rút tiền
2- Nhà đầu tư hoặc người được ủy quyền của Nhà đầu tư sẽ gặp Jimmy và giám sát quá trình gỡ tài khoản (tối đa là 2 người) và có trách nhiệm bảo mật thông tin trước khi kết thúc dịch vụ.

3- Khi gặp nhau, Jimmy sẽ thực hiện việc đăng nhập vào tài khoản trên website và mt4 trước sự hỗ trợ của Nhà đầu tư và bắt đầu gỡ tài khoản cháy


4- Nếu Jimmy giao dịch không thành công, dịch vụ được kết thúc ngay lập tức.


5- Nếu Jimmy giao dịch thành công sẽ yêu cầu Nhà đầu tư thực hiện việc rút tiền từ tài khoản sau khi gỡ về tài khoản ngân hàng (thẻ thanh toán quốc tế - visa hoặc master) 


6- Nhà đầu tư chi trả ngay 50% số tiền mà Jimmy yêu cầu nhà đầu tư rút về tài khoản ngân hàng theo tỷ giá của Vietcombank hoặc Eximbank và kết thúc dịch vụ.


Lưu ý

Jimmy có toàn quyền sử dụng tài khoản cháy như: giao dịch, sao lưu lịch sử, chuyển đổi tiền từ mt4 và website ... và Nhà đầu tư không được phép gây ảnh hưởng đến quá trình gỡ tài khoản cháy
Mọi chi tiết xin liên hệ: 01992 111199
Hướng dẫn mở tài khoản kinh doanh vàng trực tuyến => mo-tai-khoan-kinh-doanh-vang-truc-tuyen
Tham khảo thêm

Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013

Vàng Tài Khoản không phải là "Vàng Ảo"

Từ khi Việt Nam xuất hiện hoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài (2006) và kinh doanh vàng tại các trung tâm giao dịch vàng hay còn gọi là sàn vàng (2007), một số phương tiện truyền thông trong nước thường đề cập đến khái niệm “vàng ảo”. Tuy nhiên, theo người viết, khái niệm “vàng ảo” chưa phản ánh đúng bản chất vấn đề và gây ra nhiều ngộ nhận không cần thiết đối với các nhà đầu tư, nhà phân tích, nhà quản lý và nhà hoạch định chính sách.
Nhiều bài viết về thị trường vàng có vẻ thích dùng từ “vàng ảo” (viết nháy trong ngoặc kép). 
Tuy nhiên, nội dung bài viết thường chỉ mô tả được một vài khía cạnh đơn lẻ trong quy trình kỹ thuật sản phẩm và thiếu góc nhìn toàn cục của hoạt động kinh doanh vàng, rồi đi đến kết luận bằng vài chữ đại loại “như thế là ảo”, hoặc “đó là vàng ảo”. 
Nói cách khác, một khái niệm mới được nêu ra, nhưng thiếu định nghĩa thấu đáo để có thể thảo luận.  
Cái gọi là “vàng ảo” mà một số bài viết nêu lên thường muốn gắn kết với vàng trên tài khoản. 
Ngoài ra, còn có một số tình huống ngộ nhận khác cũng bị quy kết là “ảo”.
Người viết kỳ vọng, việc phân tích cụ thể ba trường hợp dưới đây - xuất phát từ kinh nghiệm và cơ sở lý luận thực tiễn - sẽ giúp phản ánh đúng bản chất vấn đề của thị trường vàng dưới góc nhìn đa chiều và logic, qua đó chứng minh khái niệm “vàng ảo” là không có cơ sở. 

Trường hợp 1: Vàng trên tài khoản không phải là vàng ảo 


Có lẽ do quá  quen với cảnh mua bán vàng miếng ở Việt Nam (một cách thức giao dịch lâu đời, nhưng ẩn chứa nhiều bất tiện và rủi ro), nên người ta dễ có khuynh hướng xem vàng không tồn tại dưới dạng vật chất hữu hình là “vàng ảo”. Lập luận này thiếu căn cứ do không dựa trên nền tảng về chuẩn mực hạch toán kế toán.


Lấy ví dụ về một doanh nghiệp Việt Nam (gọi tắt là “Bên A”) xuất khẩu 100 kg vàng vật chất cho người mua ở Thụy Sĩ (gọi tắt là “Bên B”). Sau khi nhận hàng và khấu trừ mọi chi phí phát sinh, Bên B sẽ ghi có số dư vàng vào tài khoản vàng (metal account) của Bên A mở trên sổ sách kế toán của Bên B.


Chi phí phát sinh do Bên A chịu bao gồm: (i) phí tinh luyện nếu lô hàng có hàm lượng dưới 99,99% (refining cost), (ii) phí giám định (assaying cost), và (iii) phí nghiệp vụ (handling cost). Để đơn giản hóa ví dụ, giả định tổng chi phí của lô hàng là 1 kg vàng.


Vậy, số lượng 100 kg vàng vật chất sẽ được chuyển hóa hình thái thành số dư 99 kg vàng tài khoản. Thị trường tài chính quốc tế gọi vàng tài khoản là “loco London gold” (loco: viết tắt của chữ location, nghĩa là địa điểm), tức vàng tinh chất 99,99% đạt tiêu chuẩn quốc tế có thể giao dịch tự do tại thị trường London (Anh).


Từ hình thái ban đầu là vàng vật chất có tính năng như hàng hóa (commodity) ẩn chứa nhiều chi phí và rủi ro trong giao dịch (như kiểm đếm, lưu kho, vận chuyển, bảo hiểm, an ninh, thất lạc, mất mát, nhân công…), nay vàng tài khoản trở thành một công cụ có tính thanh khoản cao (liquidity) với đầy đủ tính năng như tiền tệ (currency), có thể dễ dàng thực hiện nhiều nghiệp vụ như: (i) chuyển khoản vàng (gold transfer), (ii) gửi vàng (gold deposit), (iii) ký quỹ (gold margin), (iv) cho vay (gold lending), (v) thế chấp (gold collateral), và (vi) mua bán (gold trading)…


Trở lại ví dụ  trên, sau khi Bên B báo có số dư vàng cho Bên A, lúc này số dư vàng hạch toán trên tài khoản cũng hoàn toàn tương tự như số dư tiền gửi hạch toán trên tài khoản. Nói cách khác, Bên A là chủ sở hữu số dư vàng, còn Bên B là người đang nợ số dư vàng đó.


Với tư cách là chủ sở hữu số dư vàng, Bên A có thể ra lệnh điều chuyển vàng sang nơi khác hoặc bán số dư vàng lấy USD. Với số dư USD này (giống như thu ngoại tệ hàng xuất), Bên A có thể tùy nghi sử dụng phù hợp với quy định quản lý ngoại hối hiện hành hoặc có thể bán USD lấy VND, mang VND gửi ngân hàng hoặc rút VND tiền mặt nộp quỹ công ty mình. 


Quy trình xuất khẩu vàng nói trên cho thấy bước khởi đầu là vàng thực và bước cuối cùng là tiền thực, dù tiền USD hay tiền VND. Vậy, với điểm xuất phát và điểm kết thúc đều là thực, nếu xem vàng trên tài khoản là vàng ảo, liệu có thể chấp nhận cách lập luận thiếu thuyết phục rằng để có thể xuất khẩu vàng thực nhằm thu về ngoại tệ/nội tệ thực, phải trải qua một công đoạn “ảo hóa vàng” trước, rồi mới có thể “thực hóa tiền” sau? 


Xét một khía cạnh khác, với số dư vàng sẵn có trên tài khoản chưa sử dụng hết, nếu cần thanh khoản vàng vật chất trong nước, Bên A có thể yêu cầu Bên B chuyển vàng về Việt Nam thông qua nghiệp vụ hoán đổi vàng vật chất (physical gold swap). Theo đó, Bên A chốt giá bán cho Bên B số dư vàng tài khoản cụ thể, đồng thời chốt giá mua của Bên B số lượng vàng vật chất tương ứng. Giá bán vàng tài khoản và giá mua vàng vật chất trong trường hợp này là cùng một giá (tức Bên A không phải trả chênh lệch giá cho Bên B).


Tuy nhiên, để có thể sở hữu vàng vật chất, Bên A phải trả cho Bên B phí chuyển đổi hình thái từ vàng tài khoản sang vàng vật chất mà thuật ngữ tài chính gọi là phí nhận vàng vật chất (physical premium). Về bản chất, phí nhận vàng vật chất bao gồm: (i) phí chế tác, (ii) phí vận chuyển, và (iii) phí bảo hiểm.


Với tính năng chuyển đổi dễ dàng từ số dư vàng tài khoản thành số lượng vàng vật chất nói trên, không thể gọi vàng tài khoản là vàng ảo được. Nếu vàng trên tài khoản là ảo, thì tiền VND, tiền USD hoặc bất cứ loại tiền tệ nào khác trên tài khoản cũng ảo nốt.


Tới đây, ta thấy rõ tính chất chuyển hóa linh hoạt từ hình thái vàng tài khoản sang hình thái vàng vật chất và ngược lại, tương tự như sự chuyển hóa linh hoạt hai chiều từ tiền mặt thành tiền gửi ngân hàng. Tiền hay vàng nằm trên tài khoản cùng với tính thanh khoản và tính lưu thông thuận tiện của chúng là một phát minh vĩ đại của con người thông qua sự ghi chép sổ sách của hệ thống kế toán.


Tóm lại, trên các thị trường tài chính tiên tiến trên thế giới, vốn đã đi trước Việt Nam hàng trăm năm cũng không có khái niệm vàng ảo. Đôi khi người ta thay thế thuật ngữ “loco London gold” bằng từ ngắn gọn “paper gold”, tức vàng trên giấy tờ sổ sách.


Vì vậy, cần loại bỏ khái niệm “vàng ảo”, mà chỉ nên sử dụng khái niệm vàng tài khoản. Muốn sáng tạo ra một khái niệm mới trong kinh tế, phải hiểu rõ và phản ánh đúng bản chất vấn đề. Ngoài chữ vàng tài khoản ra, có thể sử dụng hai thuật ngữ khác để có thể thay thế như: (i) vàng ghi sổ, (ii) vàng bút tệ. 


Về bản chất các thuật ngữ này đều có nội hàm như nhau, và quan trọng hơn hết chúng đều là vàng thực, vì xuất phát điểm cốt lõi của chúng đều dựa trên một tài sản nền có thực (real underlying asset), đó là vàng vật chất có trong tự nhiên.


Trường hợp 2: Kinh doanh vàng ký quỹ không phải là ảo


Kinh doanh vàng dưới hình thức ký quỹ phi tập trung (gold margin trading) hoặc dưới hình thức ký quỹ tập trung tại sàn vàng (gold trading exchange) có sử dụng đòn bẩy tài chính (financial leverage) là một trong những phương thức đầu tư vàng tiên tiến nhất trên thế giới thay cho cách mua bán vàng vật chất vốn ẩn chứa nhiều bất tiện và rủi ro. 


Lợi ích của kinh doanh vàng ký quỹ tập trung tại sàn là:


- Tạo cơ hội kinh doanh trong nước cho nhà đầu tư một cách minh bạch thay cho kinh doanh trên mạng quốc tế một cách lén lút.


- Không đòi hỏi nhiều vốn, chỉ yêu cầu thanh toán một khoản ký quỹ ban đầu (initial margin) thay vì 100% giá trị giao dịch.


- Xác định mức lỗ tối đa khi mở trạng thái.


- Tự quyết định mức giá đặt lệnh, và cơ chế khớp lệnh liên tục giúp gia tăng tính thanh khoản của thị trường.


- Việc thanh toán mua bán sẽ được thực hiện bằng cách ghi nợ/ghi có trên tài khoản, giúp giảm thiểu rủi ro tác nghiệp (sai sót trong kiểm đếm, giao nhận, thất lạc hoặc mất mát tiền/vàng), rủi ro thanh toán, rủi ro đối tác so với cách thức giao dịch vàng vật chất ngoài thị trường.


- Nhà nước dễ dàng đo lường quy mô giao dịch của thị trường và có thể áp dụng thu thuế đối với nhà đầu tư và đơn vị tổ chức sàn khi cần thiết.


Vừa qua, có một số ý kiến cho rằng kinh doanh vàng ký quỹ với tỷ lệ ký quỹ ban đầu cao hơn 90% trên tổng quy mô trạng thái 100% mới là không “ảo”. Nếu tỷ lệ ký quỹ ở mức thấp 5% chẳng hạn, phần đòn bẩy tài chính 95% dưới hình thức cho vay được xem là “ảo”. Có thể tóm tắt ý chính của lập luận này là “ảo xảy ra khi tỷ lệ ký quỹ thấp và tỷ lệ cho vay cao”.


Trước tiên, có thể khẳng định ngay rằng kể cả khi mức tỷ lệ ký quỹ giảm xuống dưới 1% cũng không phải là ảo. Về bản chất, tỷ lệ ký quỹ chính là hạn mức chặn lỗ (slop loss limit) của nhà đầu tư. Nếu giá vàng biến động trái với kỳ vọng, nhà đầu tư chỉ lỗ đúng phần tiền đã ký quỹ, không phải lỗ toàn bộ 100% tổng quy mô trạng thái. Tỷ lệ ký quỹ dù ở mức độ nào cũng chỉ là thỏa thuận tự nguyện đã ghi trong hợp đồng giữa nhà đầu tư và đơn vị quản lý sàn.


Trước khi có công cụ kinh doanh vàng ký quỹ trên sàn, nhà  đầu tư đã thực hiện kinh doanh vàng truyền thống dưới hình thức vay nợ ngân hàng và thế chấp bằng tài sản hình thành từ nợ vay từ hàng chục năm qua.


Ví dụ, nhà đầu tư muốn đầu tư giá xuống, đến ngân hàng vay vàng, bán vàng cho ngân hàng lấy VND, dùng VND thế chấp tại ngân hàng với tỷ lệ giải ngân theo hạn mức tín dụng do ngân hàng quy định. Nếu ngân hàng duyệt cho vay 95%, nhà đầu tư phải chuẩn bị vốn tự có 5% mới có thể thực hiện giao dịch. Giả sử giá vàng giảm như dự đoán, nhà đầu tư sẽ mua vàng trả nợ cộng lãi vay cho ngân hàng và hưởng lợi nhuận chênh lệch giá vàng. 


Về bản chất, cách thức kinh doanh vàng truyền thống và kinh doanh vàng ký quỹ trên sàn là hoàn toàn giống nhau. Vốn tự có 5% chính là tỷ lệ ký quỹ của nhà đầu tư, tỷ lệ giải ngân 95% chính là đòn bẩy tài chính mà ngân hàng cung ứng cho khách hàng. 


Nếu xem kinh doanh vàng với tỷ lệ ký quỹ thấp là “ảo” và giả sử nhà đầu tư nhận định đúng xu hướng giá và thu được lợi nhuận cụ thể, liệu phải giải thích như thế nào khi kinh doanh vàng “ảo” mà lại cho ra kết quả lãi “thực”? 


Nếu xem đòn bẩy tài chính 95% trong kinh doanh vàng ký quỹ là “ảo”, vậy tỷ lệ giải ngân 95% trong kinh doanh vàng truyền thống từ trước đến nay là “ảo” hết hay sao? 


Hơn 10 năm qua, phần lớn các ngân hàng và doanh nghiệp kinh doanh và cho vay vàng theo cách truyền thống đều có lãi với số liệu hạch toán, kiểm toán minh bạch. Lãi này được phân bổ thành nhiều khoản mục, trong đó có thuế nộp ngân sách và cổ tức trả cho cổ đông. Chẳng lẽ các ngân hàng và doanh nghiệp kinh doanh vàng nộp ngân sách “ảo” và trả cổ tức “ảo”? 


Tất cả các trạng thái kinh doanh vàng ký quỹ khi chưa tất toán sẽ  ở trong tình trạng lãi/lỗ tiềm năng (potential loss/profit), nhưng khi đã đóng toàn bộ trạng thái, kết quả chung cuộc sẽ là lãi/lỗ thực tế (realised loss/profit) hoặc hòa vốn (break-even), không có lãi/lỗ ảo ở đây. 


Tỷ lệ ký quỹ nhiều hay ít, cao hay thấp không liên quan gì đến khái niệm “ảo”. Điều cốt lõi cần thảo luận ở đây đó là để hạn chế tình trạng đầu tư quá mức trong hoạt động kinh doanh vàng ký quỹ, nên quy định chặt chẽ về: (i) mức tỷ lệ ký quỹ hợp lý, (ii) đối tượng khách hàng tham gia, (iii) quy mô tối đa của một giao dịch, (iv) quy mô tổng trạng thái tích lũy tối đa, (v) tổng dư nợ tín dụng tối đa, (vi) cách thức bảo hiểm rủi ro, và (vii) hình thức xử lý vi phạm. 


Trường hợp 3. Quy định “không được rút vàng, chỉ được rút VND” không phải là ảo


Có một vài nhận xét cho rằng nếu nhà đầu tư có trạng thái dương vàng trên sàn, nhưng không được rút vàng, mà chỉ được rút VND hoặc rút vàng trả phí, đó là kinh doanh vàng ảo.


Ngược lại, nếu nhà đầu tư được rút vàng bất cứ lúc nào, đó mới là không ảo. Nói ngắn gọn, theo lập luận này “ảo tức là không được rút vàng ra khỏi sàn”. 


Tới đây, cần nhấn mạnh một lần nữa rằng hình thái vàng tài khoản (hoặc vàng trên sàn) và hình thái vàng vật chất là hoàn toàn khác nhau. Sự khác nhau về hình thái này tất yếu dẫn đến chi phí vận hành và quản lý đối với chúng cũng khác nhau. Vì vậy, với số dư vàng trên sàn, muốn rút ra dưới dạng vật chất, chắc chắn sẽ phải trả một khoản phí, giống như “phí nhận vàng vật chất” như đã nêu trong trường hợp 1.


Có thể dẫn chứng một trường hợp tương tự về tiền mặt và tiền chuyển khoản. Một ngân hàng Việt Nam có số dư USD trên tài khoản nostro ở nước ngoài, muốn rút ngoại tệ tiền mặt phải trả phí cho ngân hàng nước ngoài. Cứ 1 USD chuyển khoản chỉ đổi được hơn 0,9 USD tiền mặt. 


Có một vài nguyên nhân chính về điều khoản “không cho rút vàng”:


- Chi phí lưu kho, bảo quản, vận chuyển… rất tốn kém.


- Tính thanh khoản đặc thù của vàng vật chất là rất kém so với tiền.


- Chính sách xuất nhập khẩu vàng chưa được tự do hóa, tức phải thông qua cơ chế cấp hạn ngạch (quota). Trong điều kiện đặc thù như thế, một khi chính sách chưa giải quyết quy luật cung-cầu vàng ở tầm vĩ mô, không có bên tham gia thị trường nào có thể tự xoay xở đầy đủ nguyên liệu vàng đầu vào để gia công, chế tác thành vàng vật chất cho nhà đầu tư.


Vào thời kỳ giữa những năm 1985, có trường hợp cá nhân và doanh nghiệp đã gửi tiền vào ngân hàng và không thể rút ra theo nhu cầu, nhưng không ai gọi đó là “tiền ảo”, vì người dân hiểu rằng trong từng điều kiện kinh tế đặc thù, việc điều hòa lưu lượng tiền mặt cho cả nền kinh tế đôi khi có những bất cập trong tác nghiệp. 


Tương tự như thế, sự “không-được-rút-ra” đối với vàng không phải là ảo. Điều khoản này phản ánh một thỏa thuận tự nguyện ghi rõ trong hợp đồng giữa nhà đầu tư và đơn vị tổ chức sàn. Nếu thấy điều khoản này bất tiện, nhà đầu tư không nên ký hợp đồng. Nếu thực sự có nhu cầu sở hữu vàng vật chất, nhà đầu tư hoàn toàn có thể tìm đến cách thức giao dịch ngoài sàn như từ trước đến nay. Với điều khoản “không cho rút vàng”, chỉ có thể nói đơn vị tổ chức sàn có sự bất cập trong việc quản lý thanh khoản vàng vật chất.


Thậm chí trong tương lai nếu Nhà nước cho phép tự do hóa luồng dịch chuyển vàng ra vào (free inflows and outflows of gold) trong đó có tự do hóa xuất nhập khẩu vàng như Thái Lan chẳng hạn, mà các đơn vị kinh doanh vàng vẫn áp dụng điều khoản “không cho rút vàng”, điều đó vẫn không phải là ảo. 


Tóm lại, có thể kết luận rằng về bản chất các hình thức kinh doanh vàng đã nêu trong bài phân tích này đều là vàng thực, vì các nhà đầu tư đều kinh doanh trên một tài sản nền có thực.


Trong lúc trà dư tửu hậu ngoài xã hội, có thể nói vui “trong thực có hư, trong hư có thực, thực thực hư hư, hư hư thực thực”. Tuy nhiên, trong kinh doanh và quản lý kinh tế, không thể dung nạp các khái niệm nước đôi theo kiểu “vừa thực, vừa ảo” đan xen lẫn lộn.


Vì vậy:


- “Vàng tài khoản” không phải là ảo, vì đó là một hình thái thể hiện của vàng được ghi chép theo đúng bản chất của sổ sách kế toán.


- “Tỷ lệ ký quỹ thấp” không phải là ảo, vì đó là phần rủi ro tối đa mà nhà đầu tư đã xác định, đối ứng với hạn mức tín dụng mà ngân hàng xét duyệt.


- Điều khoản “không được rút vàng” không phải là ảo, vì điều đó vừa thể hiện một thỏa thuận tự nguyện giữa các bên tham gia ký kết hợp đồng, vừa phản ánh đúng bản chất về tính thanh khoản kém của thị trường vàng trong nước, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế khách quan.


Muốn viết đúng về thị trường vàng, việc trang bị kiến thức cơ bản và cơ sở lý luận là điều cần thiết. Để quản lý và phát triển thị trường vàng một cách minh bạch và hiệu quả, nên tiếp nhận nhiều ý kiến phản biện đa chiều được tích lũy từ những kinh nghiệm thực tiễn, đồng thời đối chiếu với các loại sản phẩm/dịch vụ tiên tiến về vàng trên thế giới mà ta chưa áp dụng, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp đồng bộ để từng bước tiến tới việc thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển của thị trường vàng trong nước so với khu vực, phù hợp với xu thế mở cửa hội nhập ngày càng sâu rộng. 


Không có con đường tắt nào vạch sẵn ở phía trước. 

* Tác giả bài viết là Giám đốc Trung tâm Vàng Ngân hàng Á Châu (ACB)
Hướng dẫn mở tài khoản kinh doanh vàng trực tuyến => mo-tai-khoan-kinh-doanh-vang-truc-tuyen
Tham khảo thêm