Hiển thị các bài đăng có nhãn xem tuong. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn xem tuong. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 15 tháng 5, 2014

Đôi mắt và Tính cách

Đôi mắt là cửa sổ của linh hồn, nó không chỉ biểu lộ tâm trạng mà còn nói lên khí chất, tài năng của mỗi người. Xem tướng qua đôi mắt không phải là việc dễ dàng. Việc nhận dạng tướng mắt phải kèm theo chân mày đòi hỏi người xem phải tinh tường và nặng về tâm linh. 

+ Mắt một mí 
Người mắt một mí thường trầm tính, chắc chắn, tỷ mỷ, luôn suy nghĩ tích cực. Họ không giỏi biểu đạt cảm nhận nội tâm, nhưng có nghị lực kiên cường, không dễ dàng lùi bước, đồng thời luôn nỗ lực theo đuổi mục tiêu mà mình đã đặt ra.
+ Mắt hai mí 
Người mắt hai mí rất giàu tình cảm, nhưng lại thiếu sự nhẫn nại, thiếu tư duy lý tính, dễ gặp rắc rối về mặt tình cảm hay khiến người khác đố kỵ hoặc dễ bị áp lực và buồn phiền chuyện tình cảm.
+ Đôi mắt long lanh 
Người có đôi mắt long lanh, ướt, cho thấy họ là kẻ đa tình và cũng rất si tình. Cũng vì ánh mắt rất có sức hút nên suốt cuộc đời họ hay bị chuyện tình cảm quấy rầy. Đặc biệt với XX, bạn phải hết sức thận trọng khi chọn đối tượng để tránh gặp phải người chồng không tốt.
+ Khóe mắt rủ xuống 
Người có khóe mắt rủ xuống, phần lớn thường có khả năng quan sát rất tốt, rất thận trọng, cẩn thận, luôn nghĩ chu đáo mọi việc, làm gì cũng có chừng mực, chắc chắn. Họ có tương lai trở thành một trợ tá giỏi.
+ Khóe mắt hếch lên 
Người có khóe mắt hếch sở hữu bộ óc sáng suốt, linh hoạt. Họ biết cách giải quyết công việc rõ ràng rành mạch, nhưng hơi cao ngạo, tự phụ. Họ cũng giỏi nắm bắt thời cơ và biết phát huy ưu điểm của mình.
+ Khóe mắt nhỏ 
Người có khóe mắt nhỏ, mà đuôi mắt hơi hếch lên, thuật xem tướng gọi đây là mắt phượng (mắt xếch). Con người này rất đa tình, rất có duyên với người khác giới và có sức hút riêng. Họ nhạy cảm, hiếu kỳ, khả năng lĩnh hội cao, có con mắt thẩm mỹ bẩm sinh, hơn nữa khả năng học hỏi cũng rất tốt.
+ Tròng trắng nhiều 
Thuật xem tướng cho rằng trong trạng thái bình thường, tròng đen thường phải nhiều hơn tròng trắng, có như vậy thâm tâm mới yên ổn. Nếu tròng trắng lộ ra nhiều, tròng đen ít, thì cuộc đời dễ gặp phải tranh chấp và nghịch cảnh. Nếu là phụ nữ thì đường nhân duyên gặp nhiều trở ngại.
+ Thượng tam bạch hoặc hạ tam bạch 
Người có tướng mắt thượng tam bạch (tròng đen nằm sát phía dưới, phía trên và hai bên mắt đều là tròng trắng) và người có tướng mắt hạ tam bạch(tròng đen nằm sát phía trên, phía dưới và hai bên mắt đều là tròng trắng) có tính cách rạch ròi, ý chí quật cường, tâm tư khép kín. Họ không mấy bận tâm đến cảm nhận của người khác, giải quyết công việc đâu ra đấy và thích tranh luận. 
+ Mắt phượng 
Mắt phượng dài, lòng đen hơi ẩn trên mí trên thấy có nhừng vết sóng dài trên mí trên. Người sở hữu đôi mắt này thường sống nội tâm nên người khác khó lòng đoán biết được suy nghĩ, ý định của họ.Trong việc giao tiếp ứng xử, họ luôn thể hiện sự mềm mỏng, nhã nhặn, quan tâm đến mọi người xung quanh. Người có đôi mắt phượng này là quí tướng, có tài cầm quân,  cầm tướng. Mắt Phượng thêm mày gọn, lớn mọc như hơi cong lên rồi cong xuống ôm vòng ngoài mắt thì cực quí, đi với mày ngoạ tằm cũng cực quí. Mày ngoạ tằm giống như con tằm bám trên mắt, lớn hơi xếch, lông mày mọc gọn mướt, thấy thịt dưới lông mày đùn lên như con tằm. Người coi bói có tướng mắt này , phải nói công danh trọn vẹn, phú quí giàu sang.
+ Đào hoa nhãn 
Nguời có đôi mắt đào hoa nhãn rất đẹp,rất duyên dáng , lúc bình thuờng không cuời mắt vẫn như cuời, đó là cách dễ nhất để nhận ra . Nguời có mắt đào hoa thuờng thấy mắt luôn uơn uớt. Vậy bây giờ quí vị thử tập coi bói qua những nguời chung quanh xem ai có mắt đào hoa? Xưa đến nay đào hoa là con dao hai luỡi đối với đàn bà .Dù vậy coi bói không nên hễ thấy đàn bà có mắt đào hoa thì cho là xấu mà phải khuyên răng làm theo lẽ phải, sống đúng đạo đức, thuần phong mỹ tục.
+ Mắt Rắn 
Mắt rắn có tròng đen chìm vào trong lòng trắng , có những gân đỏ nhìn hơi giống xa luân, tròng trắng có vẩn đỏ, loại hai mắt như có lớp nuớc phủ con nguơi có xa luân xanh đen. Ngũ độc mi ngắn đầu chúi xuống. Đặc biệt của loại mắt này là được huởng tiểu quí hoặc trung quý nhưng tâm tính độc ác, về già gánh họa. Đàn ông sở hữu loại mắt này có có khả năng làm lãnh đạo, dễ thành công trong công việc. Nhưng khi họ đã lên đến vị trí cao, nếu những người xung quanh không theo họ, có ý phản đối hoặc lưỡng lự thì họ sẵn sàng từ bỏ những người này. Vì vậy, họ có thể bị oán ghét bởi sự lạnh lùng, có phần tàn nhẫn của mình. Dù vận thế rất tốt nhưng trong cuộc sống họ thường chịu cảnh cô đơn, ít người thân tín bên cạnh.mình . Thế nhưng nguời tu hành có mắt này thì lại khác, lúc trẻ bị ức hiếp, hãm hại, dè bỉu, hay vuớng chuyện thị phi, nhưng càng về già thì trí càng thỏa, tâm tính rộng mở đuợc thư thái đến vãn vận. Nhiều nguời xem không rõ về tuớng pháp lúc gặp thầy tu có mắt này thuờng nói coi mặt ông này gian gian, đó là do mắt rắn mà ra, vô tình làm cho tính chất mắt rắn ở thày tu càng đúng hơn. Việc đánh giá về loại mắt này cũng vì thế cần xem thêm các yếu tố khác để được chính xác hơn.
+ Mắt nhỏ 
Đa phần người có đôi mắt nhỏ hay bảo thủ, nhút nhát, lòng dạ hẹp hòi, tài năng thấp kém, tuổi thọ ngắn. Nhưng nếu mắt nhỏ mà thần sắc không lộ thì chủ nhân tính tình cẩn thận, có thể làm công tác nghiên cứu hoặc tài chính. Khi xem cần quan sát mắt nhỏ nhưng có thần, trán cao, mũi nhô; lông mày, râu và tóc mai đều thưa: là người thông minh, cuộc đời dễ có được giàu sang.
+ Mắt vượn 
Mắt vượn có nhiều sóng trên mắt, đuôi mắt loan xuống nhiều hơn. Khi xem cần chú ý phần mí duới ít cong hơn và tròng đen ít hay không tia. Mắt này cũng khá hiếu sắc, tâm tính loay hoay, phức tạp. Mắt này tình cảm dây dưa vì loay hoay, thôi rồi lại nữa, vì lăng nhăng lại nặng lòng nên cứ tới lui, mắt này huởng tiểu quí, đến già nhờ con. 
+ Mắt khỉ 
Mắt khỉ có nhiều nếp gấp nhưng tròng mắt to hơn và lòng đen hơi chạy lên trên, có nhiều tia và hơi nâu vàng, mí duới uốn cong, mắp luôn hấp háy.Khi xem cần chú ý thêm mắt này đi với lông mày ngắn mọc cao trên mắt là nguời tinh tế, nhanh nhẹn nhưng khắc thê tử, hiếu dâm, nguời này rất giỏi tuy vậy phải vất vả rất nhiều mới thành đại nghiệp. Mắt và mày này nếu bị mũi triết đoạn thì sách tuớng khuyên sống đời ẩn dật để tránh bạo tử.

+ Mắt ti hí và mày lưa thưa 
Mắt ti hí là mắt nhỏ, mí mắt him híp. Mắt ti hí hay liếc ngang, nguời coi bói có mắt này thông minh, gian vặt.Khi coi bói, cần để ý thêm những nguời mắt hí thêm mày thưa gián đoạn rất gian manh về già bị mọi nguời xa lánh. Ca dao có câu: ” những phuờng ti hí mắt lươn, trai thời trộm cắp gái buôn chồng nguời”.

Thứ Tư, 2 tháng 10, 2013

Nhân Tướng Học

Tướng tuỳ tâm sinh - Tướng tuỳ tâm diệt, Tướng tốt - Tướng xấu là ở cái tâm con người !
Phương pháp xem tướng đều thông qua việc quan sát kỹ lưỡng để dự báo cát hung họa phúc, ở đây chỉ xem xét và quan sát các loại hình của tướng thuật. 
Các phương pháp nhận dạng cá nhân qua dấu vết lỗ tai, dấu vân tay, hình dạng của mũi...là một khoa học dựa trên nghiên cứu các bộ phận của con người, thuật xem tướng cũng vậy được đúc kết từ kinh nghiệm quan sát hàng ngàn năm của tiền nhân.
Về đối tượng được nghiên cứu bao gồm 3 loại là hình thể, mạch và vật thể, từ đó phân tướng thuật làm ba loại là hình tướng, mạch tướng và vật tướng.
1. Hình tướng
Người ta thường nói tướng thuật, kỳ thực là chỉ hình tướng. Hình tướng là qua việc quan sát các bộ vị của thân thể và sự biến hóa tương quan giữa chúng để dự báo cát hung. Đó là nội dung chủ yếu của tướng thuật mà chúng ta thường nói tới. Tướng thuật cho rằng “mệnh người do thiên bẩm và biểu lộ ra ở hình thể”. “Tính mệnh lộ ra ở hình cốt, cát hung thể hiện ở khí mạo”, “phàm giữa mệnh và tướng giống như âm thanh và tiếng vang. Âm thanh từ mình phát ra, tiếng vang liền ứng theo, tuy mọi người thọ yểu khác nhau, hiền ngu không giống nhau, nhưng quy luật chung là có thể biết được”. “Bởi vì thân thể không lúc nào không biểu lộ ra những dấu hiệu của sinh mệnh”, “cho nên các thánh hiền thời xưa thường xem hình mạo để biết tính chất, biết tính chất thì hiểu rõ cái tâm, hiểu rõ cái tâm thì biết cái đạo. Quan sát hình mạo sẽ thấy cát hung rõ ràng. Vả lại Phục Hi có nhật giác, Hoàng Đế có long nhan (mắt rồng) Thuấn có hai con ngươi, Văn Vương có bốn vú, đều là tướng của người xưa, thể hiện ra như vậy, là thánh nhân vậy. Còn tất cả mọi người hiền ngu khác, cũng đều thể hiện ra ở mọi dấu hiệu nhỏ bé ở bàn tay, ngón tay, không ai ra khỏi quy luật chung đó. Vì vậy, thuật xem tướng hình thần bắt đầu được xây dựng nên”. (“Thái thành thần giám” – Tự). Rõ ràng, thông qua hình thể để phân biệt thiện ác cát hung là phương pháp và nội dung cơ bản của hình tướng. Sự quan sát hình thể nhằm mục đích vạch ra thiện ác và tính tình, sự thiện ác của tính tình là cơ sở của cát hung. 
Nếu hình tướng lấy nhân thể làm đối tượng quan sát, thì mọi bộ vị của thân thể có thể là dấu hiệu biểu lộ ra, như xương khớp, da thịt, lông mày, râu ria, lông tóc, trán má, mắt, mũi, miệng, môi, răng, lưỡi, tai, cổ vai nách, lưng, vú, bụng, eo lưng, rốn, hậu môn, tứ chi, tay, chân, bàn tay, ngón tay, móng tay, móng chân, khí quan sinh dục, tinh thần khí sắc, bởi lẽ cử chỉ cho tới việc đại tiểu tiện đều là những cái bao hàm xâu xa liên quan tới số mệnh khác nhau và trở thành đối tượng quan sát. Thoạt nhìn qua hình thái người ta khác nhau, nhiều biểu hiện rối rắm phức tạp, nhưng trên thực tế đều có dấu hiệu để nắm bắt, đều có ý nghĩa. Chỉ cần nắm vững quy tắc vận động của hình thái có thể hiểu rõ được điều đó, có thể vạch ra những thông tin về số mệnh làm chứa trong đó. Trong con mắt nhà tướng thuật, sự huyền bí của tướng thuật chỉ là do dân chúng nói chung không hiểu được các “mật mã” chỉ thị số mệnh mà thôi. Trình độ cao thấp của các nhà tướng thuật biểu hiện ở sự thông hiểu các “mật mã” đó và trình độ thao tác của họ. 
Ban đầu, sự quan sát và bình luận của các tướng thuật gia đối với các bộ vị của hình thể tương đối thô sơ và giản đơn. Cuốn “Tướng pháp thập lục thiên” thác danh Hứa Phụ chỉ căn cứ vào 14 bộ vị cụ thể của thân thể người và 2 mặt hành vi, tiếng nói để bình phán về số mệnh con người, vả lại mỗi điều lại riêng rẽ, không liên quan bổ trợ cho nhau. Ngoài ra, các thầy tướng mỗi người lại chỉ chú trọng đến những bộ vị khác nhau, như vậy tất nhiên sẽ dẫn tới kết quả là do biểu trưng ở các bộ vị của mỗi con người khác nhau nên sẽ suy ra những kết luận về số phận khác nhau nên sẽ suy ra những kết luận về số phận khác nhau, và không thể nào phản ánh được những sai khác nhỏ bé trong số phận giữa người này với người khác và sự chìm nổi, biến hóa trong số phận của một con người nên không thể kết luận cho tròn trĩnh được. Thế là, hình tướng rất nhanh chóng phát triển theo ba hướng. (1) Sự đi sâu, chia nhỏ trong cơ cấu các bộ vị của cơ thể. Sau này, hình tướng không giản đơn lấy sự khác biệt đại khái của một bộ vị nào đó để làm căn cứ phán đoán số mệnh nữa, mà tiến hành quy nạp, phân loại, coi chúng nằm trong hệ thống lớn và hệ thống nhỏ có tầng thứ rất chi tiết, nội dung rất phong phú. Như về mặt chia ra làm 13 bộ vị, thuộc về một hệ thống lớn. Riêng về tai đã chia ra hơn 20 loại có quan hệ đến số mệnh, thuộc một hệ thống nhỏ. Sự phối hợp liên hệ giữa hệ thống lớn và hệ thống nhỏ đã giải quyết được những sai biệt nhỏ về số mệnh giữa người này với người khác. Sự bình phán về số mệnh đã từ chỗ giản đơn phán đoán về thọ yểu, sang hèn phát triển thành sự dự báo về hoạn lộ, nắm được thăng tiến, tật bệnh, sinh đẻ, gia đình, họa phúc, ăn uống, đi xa, v.v…, hầu như trình bày hết mọi nội dung sinh hoạt của một đời người. (2) Sự chỉnh thể hóa các bộ vị của hình thể. Lúc ban đầu, tướng thuật không xem cả toàn thân để dự đoán số mệnh. Có người thiên về xem tướng mặt, có người thiên về xem cốt tướng …. người nào theo thuyết của người đó, thành nhiều chi phái. Sau này phát triển lên, tướng thuật ngày càng chặt chẽ, đại đa số thầy tướng không còn xem xét cô lập một bộ vị để dự đoán số mệnh nữa mà coi mọi bộ vị trong hình thể là một thể thống nhất hữu cơ, mỗi bộ vị có tác động chủ yếu hoặc thứ yếu đến số mệnh và chi phối những mặt khác nhau của số mệnh. Việc xem hình tướng cũng theo thứ tự nhất định, tức là trước hết xem xương khớp, sau đến tam đình rồi đến mặt và khí sắc …. gọi là “thập quan pháp”. Sau cùng tổng hợp mọi biểu trưng bên ngoài rồi dự đoán số mệnh. Như vậy, giải quyết được vấn đề những hình tướng khác nhau, sẽ có số mệnh khác nhau. (3) Động thái hóa sự giải thích số mệnh. Hình tướng của con người là một đặc trưng sinh lý suốt đời biến đổi rất ít. Lấy đó mà bàn mệnh vận, tất nhiên sẽ dẫn tới tình trạng “cứng đờ”, chỉ thấy mệnh mà không thấy vận, mà trên thực tế thì mệnh vận con người không ngừng biến hóa. Vì vậy, tướng thuật lại đề xuất ra thuyết về khí sắc, tức là căn cứ vào màu sắc đỏ, vàng, xanh, đen, tía, trắng biểu hiện ở các bộ vị khác nhau trên mặt để suy đoán họa phúc cát hung trước mắt và lâu dài về sau. Đồng thời lại xây dựng nên thuật số “lưu niên vận khí” và phối hợp cái đó với mệnh tướng của các bộ vị trên hình thể. Đặc trưng bộ vị quyết định số mệnh chung, còn khí sắc quyết định sự biến hóa cụ thể của cát hung họa phúc trong một phạm vi thời gian không gian. Do đó mà tạo nên thuyết vận mệnh vừa tương đối ổn định, vừa biến hóa vô cùng. Như vậy là, cuối cùng họ đã cho xây dựng được một học thuyết trọn vẹn, không còn kẽ hở, giải quyết được toàn bộ khó khăn của tướng thuật. 
Do hình tướng là chủ thể của tướng thuật nên mọi người thường coi hình tướng là toàn bộ tướng thuật. Để tiện theo dõi, những phần viết tiếp theo vẫn coi hình tướng là nội dung chủ yếu của tướng thuật để phân tích và đánh giá.
2. Mạch tướng
Mạch tướng cũng còn gọi là Thái Tố mạch là một loại phương thuật thông qua sự biến hóa về mạch trong cơ thể người để dự báo cát hung họa phúc. Vì thông qua phương pháp chuẩn mạch của Trung Y để đạt tới mục đích đó nên nó coi là một loại tướng thuật đặc biệt. Về nguồn gốc của mạch Thái Tố, hiện nay vẫn còn nhiều thuyết khác nhau, nhưng thuyết được nhiều người nhất trí nhất thì cho rằng Trương Thái Tố, người ở Thanh Sơn thời Minh được một vị ẩn giả bí mật truyền cho, rồi ông thực nghiệm nhiều lần, chỉnh lý lại và lưu truyền ra. Thái Tố có viết cuốn “Thái Tố mạch bí quyết” gồm hai cuốn thượng và hạ. Phương pháp mạch Thái Tố mà ngày nay ta được biết là nhờ ở cuốn sách đó. Trương Thái Tố cho rằng, sự thay đổi về mạch đạp của con người là cùng một nguyên lý với ngũ hành bát quái, Hà đồ Lạc thư. Chỉ cần nắm vững bí quyết của mạch Thái Tố thì không những có thể chuẩn bệnh cho người ta mà còn có thể dự đoán mệnh vận. Tương truyền, Thái Tố mạch pháp linh nghiệm dị thường, không những có thể dự đoán mọi điềm cát hung, suốt cả đời người, mà còn có thể căn cứ vào mạch tướng của cha để dự đoán tiền đồ vận mệnh của con nữa. 
Căn cứ vào nguyên lý chuẩn mạch của Trung Y, mạch quyết Thái Tố quy nạp sự biến hóa của mạch tướng con người thành “ngũ dương mạch”, “ngũ âm mạch”, “tứ doanh mạch”. 
Gọi là “ngũ dương mạch” tức là năm loại mạch tướng: phù, hoạt, thực, huyền, hồng, Thái Tố mạch quyết nói:  
“ Phù là mạch nhẹ và ở bên trên, ẩn hiện hoãn tán, như nước làm nổi vật lên, ấn mạnh xuống thì không thấy, để nhẹ tay thì thấy rõ, càng nhẹ càng thấy mạch, rõ rành ở đầu ngón tay. Nếu tam bộ đều phù, thì tâm khí bất túc. 
Hoạt, là mạch không có đầu nối như chuỗi hạt liên tục, ấn mạnh tay thì càng mạnh, thấy rõ ở đầu ngón tay. Để nguyên tay thì thấy mạnh hơn mạch hồng. Nếu tam bộ đều hoạt thì can khí bất túc. 
Thực, là mạch ngược với hư. Nguồn mạch lâu dài không dứt, đặt nhẹ tay thì mạch rõ, ấn mạnh tay thì thấp thoáng như mạch huyền, nhỏ hơn mạch hồng. Nếu tam bộ đều thực thì là tì khí không đủ. 
Mạch huyền là ấn tay xuống thấy căng như dây đàn, ấn mạnh thì đập vừa phải, ấn nhẹ thì càng gấp, mạch tụ mà không tán, để lâu vẫn không thay đổi. Nếu tam bộ đều huyền, thì phế khí không đủ. 
Hồng, là mạch lớn, có nguồn sâu, dòng dài, ấn tay xuống tìm mạch, thấy không huyền không phù, ấn nhẹ ấn nặng đều như vậy. Nếu lại tìm nữa thì bỗng thấy mạnh. Nếu tam bộ đều hồng là khí bất túc”.  
Năm hiện tượng phù, hoạt, thực, huyền, hồng là dấu hiệu của “Ngũ dương mạch”. Chủ yếu khác nhau về mức độ nặng nhẹ, sâu nông. Như mạch phù là “nhẹ thì có nhiều, nặng thì có ít”, mạch hồng là “không huyền không phù, nặng nhẹ đều có” …. 
Gọi là “ngũ âm mạch” tức là bốn loại mạch: vi, trầm, hoãn, sắc. 
Thái Tố mạch quyết nói: 
“Mạch vi là mạch rất nhỏ và yếu, ấn mạnh tay để tìm thì thấy như sợi tóc, thấp thoáng ẩn hiện, như trạng thái nửa có nửa không. Nếu tam bộ đều vi, thì là huyết trệ và thần bất túc. 
Mạch trầm, như hòn đá ném xuống nước chìm xuống tận đáy, ấn mạnh tay để tìm thì phảng phất thấy. So với mạch vi, thấy mạch này hiện chậm trên xương. Nếu tam bộ đều trầm, thì là vị (dạ dày) nghịch và khí bất túc. 
Mạch hoãn, như sợi tơ trong máy không cuốn vào trục, ấn ngón tay thì thấy hoãn, xê dịch thì thấy vi, nhưng lại không gấp bằng vi, không trầm không phục đó là hoãn. Nếu tam bộ đều hoãn thì là thận yếu và tinh không đủ. 
Mạch sắc, là trệ mà không hoạt, dưới ngón tay như có cát chìm, như dao vót tre, trầm mà thô, ấn nặng thấy động vào ngón tay, ấn nhẹ thì như không có; trước thực sau hư lặp lại không ngừng. Nếu tam bộ đều sắc thì hồn không đủ.” 
So sánh với năm dấu hiệu của “ngũ dương mạch” thì “ngũ âm mạch” tỏ ra yếu ớt nhỏ nhoi, mặt khác “ngũ dương mạch” lấy huyết khí của các bộ vị khí quan làm đối tượng chuẩn đoán, còn “ngũ âm mạch” lại lấy tinh thần hồn phách của toàn thể con người làm mục đích kiểm tra. Do đó thấy rằng “ngũ âm mạch” nhỏ yếu khó tìm, song lại rất quan trọng, nếu tinh thần hồn phách của một con người trầm trệ bất túc, thì hình thể cũng sẽ khô xác. 
Gọi là “tứ doanh mạch”. 
Thái Tố mạch quyết nói: Tứ doanh là nhẹ nặng và đục, là âm. Phàm muốn biết sự sang hèn, giàu nghèo, thọ yểu của con người thì phải tìm trong tứ doanh mạch. 
“Người có mạch khinh (nhẹ) thấy như ngón tay sờ vào ngọc, thuần túy ôn nhuận, là người có trí thức minh mẫn, lộc vị quyền quý. 
Người có mạch thanh (trong), thấy phẳng lặng trong và nổi, như lông vũ nhẹ, không trầm không lắng, luôn thấy đập nhẹ. 
Người có mạch trọng (nặng) thấy hoãn và thô, lấy tay ấn xuống thấy mạch đục, mạch đục thì khí cũng đục. 
Người có mạch trọc (đục) thấy đục, trầm mà căng lại ẩn có trọng trọc, cũng cần xem xét bản nguyên của nó”. 
“Tứ doanh mạch” xem ra có tính tổng hợp, tổng quát. Sau khi hiểu sâu hai loại mạch “ngũ dương”, “ngũ âm”, còn cần phải đánh giá nghiên cứu tình hình nhẹ nặng trong đục của nó, sau đó mới có thể tổng hợp dự đoán trạng thái vận động của sinh mạng và từ đó suy ra xu hướng sang hèn, giàu nghèo, thọ yểu của mệnh vận. Do đó, “tứ doanh mạch” là hết sức quan trọng. 
Mạch Thái Tố lấy “ngũ dương mạch”, “ngũ âm mạch” làm cơ sở, lấy “tứ doanh mạch” làm hệ quan chiếu đánh giá, rồi lại tham hợp mạch tướng nam nữ và tiêu chuẩn giá trị của tướng lý, là có thể chỉ ra tiền đề mệnh vận của một cá nhân. “Thái Tố mạch bí quyết nói rằng: “Mạch Thái Tố, lấy việc nhẹ trong hay nặng đục để bàn về mệnh. Nhẹ trong là dương là giàu sang, nặng đục là âm, là nghèo hèn. Đàn ông lấy bộ can mộc làm chủ, quyết định công danh cao thấp, đàn bà lấy vị phế kim đoài làm chủ, quyết định việc phúc đức. Còn như nhẹ trong, như ngón tay sờ ngọc, thấy thuần túy ôn nhuận, đập vào đầu ngón tay rõ ràng, lục mạch (sáu mạch) không khác nhau. Như dòng chảy liên tục không đứt đoạn, dù có tật nhỏ, vẫn trong không đục, chủ về người có bản tính xung hòa, trí thức minh mẫn, lộc vị cao, đó là mạch trong nhẹ. Mạch nặng đục thì đập vào ngón tay không rõ ràng, như vung cát khô khắp đầu ngón tay, trước lớn sau nhỏ, số lần ngưng nghỉ hỗn tạp, khắc với bản thân, đó là mạch nặng đục, ấn ngón tay xem xét kỹ, không lần nào sai”. Đoạn văn trên nói rõ thực chất của tướng pháp theo mạch Thái Tố.ớng pháp mạch Thái Tố chủ yếu lấy bốn loại mạch nhẹ trong nặng đục làm phép tắc cơ bản để bàn về tướng người. Người có mạch tướng nhẹ trong là sang người có mạch tướng nặng đục là hèn. Nam giới chủ yếu cần nắm can mạch, theo đó để phán đoán công danh phú quý « nếu tam bộ đều hoạt, là can khí bất túc » đó là điều kỵ với mạch tướng đàn ông. Nữ giới chủ yếu cần nắm phế mạch, do đó có thể phán đoán phúc phận. « Nếu tam bộ đều huyền là phế khí không đủ », đó là điều kỵ với mạch tướng của đàn bà. 
Mạch Thái Tố dung hợp cả mạch lý của Trung Y và các yếu tố văn hóa âm dương ngũ hành, Hà đồ, Lạc Thư, rồi dùng tiêu chuẩn giá trị của tướng lý để đối chiếu, phát huy tỏ rõ đặc trưng hòa trộn vào nhiều thành phần văn hóa. Vì loại tướng thuật này lấy tên chính là chuẩn mạch của Trung Y nên càng dễ thu hút mọi người, khiến mọi người tin tưởng, đã từng lưu hành rộng rãi trong thời Minh và nổi danh là không sai bao giờ.
3. Vật Tướng
Trong lịch sử tướng học có một loại xem tướng dựa vào việc quan sát những đồ vật có liên quan đến con người để dự đoán cát hung quý tiện của người đó. Môn đó gọi là Vật Tướng. 
Tướng thuật giống như một cây có nhiều cành lá, sinh ra nhiều môn phái khác nhau, nên nhiều người nghiên cứu tướng thuật cho rằng nếu như hình mạo đã có thể tỏ rõ quý tiện cát hung thì những vật phẩm gần gũi với con người cũng có thể tỏ rõ thị hiếu, tính tình của con người và đương nhiên cũng có thể căn cứ vào những vật đó để dự đoán cát hung. 
Ngoài việc liên tưởng từ hình mạo, sự ra đời của môn vật tướng còn có liên hệ mật thiết với tục « vật chiêm » của người thời cổ. « Vật chiêm » là thông qua cảnh vật tự nhiên để dự đoán cát hung. Tục này đã được ứng dụng rộng rãi trong dân gian trong mọi thời kỳ lịch sử ở Trung Quốc. Vào thời Hán đã có thuật xem tướng gió, căn cứ vào hướng gió, sức gió và thời gian gió thổi để đoán cát hung. « Thái Bình ngự lãm » quyển 9 đã trích ghi bài « Tướng phong phú » của Trịnh Huyền và bài « Tướng phong phú » của Trương Hoa, tức là coi gió cũng có điềm lành và điềm gở. « Thái Bình ngự lãm » quyển 872, mục điềm lành có nói : « Phù Thụy đồ » nói : Tướng phong là gió tốt, còn gọi là cảnh phong. Mùa Xuân thì phát sinh, mùa Hạ thì mạnh đủ (tưởng doanh), mùa Thu thì Thu tàng, mùa Đông thì an ninh ». Phần điềm gở dẫn Sử ký : « Cuối đời Ân Trụ, gió lớn thổi xiên bò ngựa, làm đổ nhà bật cây, tràn lan mấy chục dặm. Chu bèn diệt Ân ». Theo nhìn nhận của người xưa thì gió, núi sông... mọi vật tự nhiên đều hàm chứa điềm lành điềm gở, chỉ có điều chưa được người ta hiểu mà thôi. Con người với tư cách là vạn vật chi linh, sống trong thế giới vật chất này, đem những điềm lành, gở của các sự vật, hiện tượng liên quan đến con người gán vào cho con người, đó là thành quả tư tưởng của các Vật tướng gia. 
Vật tướng còn phân loại các vật phẩm khác nhau để xem tướng như xem tướng Ấn, xem tướng Chữ, xem tướng Tên, xem tướng Hốt... 
Phép xem tướng Ấn là phương pháp căn cứ vào quả ấn và những chữ triện khắc trên ấn chương để đoán cát hung họa phúc. Người đầu tiên đề ra phép xem tướng này, hiện nay chưa có kết luận nhất trí. « Thái Bình ngự lãm » quyển 683 dẫn « Tướng ấn thư » : « Phép xem tướng Ấn, vốn do Trần Trường Văn đề ra... đoán cát hung đúng tới 8, 9 phần. Trọng Tướng hỏi Trường Văn học phép này ở ai, Trường Văn trả lời : « gốc từ thời Hán », lại dẫn « Tướng Ấn kinh » : « Ấn có 8 góc hoặc 12 góc. Ấn cần phải vuông vắn, trên ổn dưới phẳng, sáng láng sạch sẽ, như vậy thì đều lành ». Về những trước thuật về phép xem tướng ấn, ngoài hai cuốn « Tướng ấn thư » và Tướng ấn kinh » mà « Thái Bình ngự lãm » dẫn ra, « Tùy thư – Kinh Tịch chí » có ghi chép : « Tướng bản ấn pháp chỉ lược sao của Vĩ Thị và « Trình Thâu Bá tướng ấn pháp » mỗi cuốn gồm một quyển, nhưng đều đã thất lạc. 
Phép xem tướng Chữ, còn gọi là « chiết tự », trắc tự ». Phương pháp này chia chữ ra các bộ phận rồi ghép vào chuyện nhân sự để đoán cát hung. Sách « Hữu Đài tiên quán bút ký » thời Thanh viết : « Thuật chiết tự, xưa gọi là xem tướng chữ, thời Tống có Tạ Thạch (xem Hà Cư « Xuân chư kỷ văn », thời Minh có Trương Thừa Tra (xem « Lưu Tích phi tuyết lục »). Phương pháp xem tướng là tùy ý nêu ra một chữ, rồi suy diễn sự liên quan mà đoán cát hung. Bí quyết của phép xem tướng chữ có lẽ là ở chỗ suy diễn sự liên quan mà đoán cát hung. Với thầy tướng đoán chữ, đó là việc sau khi phân tích chữ, suy đoán ra sự cát hung của khách xem tướng. Những thầy tướng giỏi xem tướng chữ có nhiều, trong đó, nổi tiếng hơn cả là Tạ Thạch, Chu Sinh đời Tống, Trương Thừa Tra thời Minh, Phạm Hành thời Thanh.  
« Tạ Thạch (Nhuận Phu) là người Thành Đô. Khoảng năm Tuyên Hòa, đến kinh sư, dùng phép xem tướng chữ để nói họa phúc của người. Người cần xem tướng chỉ cần tùy ý viết ra một chữ, ông sẽ phân tích chữ đó để nói, không lần nào là không nói đúng một cách kỳ lạ. Danh tiếng động đến Cửu trùng (nhà vua), Thượng hoàng liền viết một chữ « Triều », sai Trung Quý nhân đem tới cho Tạ Thạch xem. Tạ Thạch nhìn chữ, rồi ngắm Trung Quý nhân và nói : « đây không phải là chữ của nương nương, song cái nghề mọn của Tạ Thạch này, căn cứ vào chữ mà nói thì hôm nay chịu ơn tao ngộ là ở chữ này. Chữ « Triều », phân tích ra là 4 chữ thập nguyệt thập nhật (mùng 10 tháng 10), nếu không phải là bậc người trời sinh vào ngày tháng này (tức Thượng Hoàng Tống Triết Tông) thì còn ai viết vào đây nữa ? ». Mọi người có mặt cả kinh, Trung Quý nhân trở về tâu lên. Ngày hôm sau, Tạ Thạch được triệu vào hậu uyển, vua lệnh cho tả hữu và cung phi viết chữ đưa cho Tạ Thạch xem, ông nói đều rất chính xác. Hoàng đế ban thưởng rất hậu và phong làm Thừa Tín lang. Từ đó, bốn phương tìm đến xem tướng, ngoài cửa lúc nào cũng đông như chợ ». 
Lại căn cứ vào sách « Lưu Tích phi tuyết lục » nói : Gần đây, những người chiết tự để đoán cát hung, không ai bằng Trương Thừa Tra, ông căn cứ vào chữ, vẽ thành quẻ rồi nói chứ không cần làm gì khác. Đầu niên hiệu Hồng Vũ, có hai ông tham tri chính sự là Lưu công và Vương công đến Triết Giang, đổi Củng Bắc Lâu thành Lai Viễn, rồi yết bảng lên. Thừa Tra đến xem rồi nói : « Nội ba ngày sẽ có việc tang ». Quả nhiên, ba ngày sau, mẹ của Vương công ốm chết. Vương công hỏi nguyên do, Thừa Tra nói : Chữ « lai » có hình chữ « tang », chữ « viễn » có hình chữ « ai », hai dấu chấm bên cạnh là « lệ điểm » (dấu nước mắt) vậy ! Vương công nhờ Thừa Tra đổi chữ khác, liền đổi thành Trấn Hải Lâu. 
Tóm lại, xét về tính chất, loại vật tướng này mang nhiều tính chất bói toán, so với tướng thuật chân chính (tức hình tướng), có khoảng cách rất xa.
Mười Bước Xem Tướng trong "Thần tướng toàn biên"

Coi tướng đàn ông hay đàn bà đều phải có trình tự. Sách "Thần tướng toàn biên" gọi là Thập quan (mười bước xem) và biết như sau: (Chú ý mục này nói thiên về nam tướng nhiều hơn) 

1 - Coi vẻ uy nghi như hổ hạ sơn - bách thú sợ hãi, như chim ưng bay trên trời - cáo thỏ đều kinh. Không dữ tợn mà có uy. Uy nghi là nhờ đôi mắt, lưỡng quyền và thần khí. 

2 - Coi dáng và tinh thần, thân như chiếc thuyền chở vạn hộc thóc, cưỡi sóng to tuy bập bềnh mà không lay chuyển. Lúc ngồi, lúc nằm, lức đứng, lúc đi, thần khí linh hoạt, thanh khiết. Ngồi lâu không mê muội, càng ngồi lâu tinh thần càng sảng khoái như mặt trời mọc ở phương Đông ánh sáng chan hoà vào mắt người, như vầng trăng thu vằng vặc. Diệu thần, nhãn thần như mặt trời mặt trăng sáng lạn, tự nhiên khả ái. Nhìn lâu không mờ. Có những tướng trên không đại quý cũng tiểu quý, chẳng giàu tỷ phú thì cũng bậc triệu phú! 

3 - Coi đầu tròn, đỉnh dầu trán cao vì đầu là chủ toàn thân, nguồn gốc của tứ chi. Đầu vuông, đỉnh đầu cao là người ở ngôi vị cao tới bậc vua chúa. Trán vuông, đỉnh đầu cao khởi là phụ tá lương thần. Đầu tròn thì giàu có và thọ. Trán rộng thì sang quý. Đầu lệch từ nhỏ truân chuyên. Trán vát thiếu niên hư hao. Trán thấp thì hình khắc và bướng bỉnh. 

4 - Thẩm định sự thanh trọc: Thanh hay trọc phải đúng mức, vì Thanh đi quá đà sẽ trở thành hàn. Trọc đi quá đà sẽ trở thành thô và chỉ khi nào có hàn và thô mới coi là xấu. Nếu trong một cá nhân có cả Thanh lẫn Trọc, ta phải tìm xem đó là cách Thanh trung hữu Trọc hay cách Trọc trung hữu Thanh. 

5 - Coi Ngũ nhạc Tam đình

A) NGŨ NHẠC: 
Quyền bên trái là Đông nhạc cần ngay ngắn không thô lộ. Trán là Nam nhạc cần ngay ngắn, không vát, không hãm, không thấp, không thiên tà. Quyền bên phải là Tây nhạc nên đầy đặn, vuông vấnhy tròn trịa, không nên nhọn, lệch, lẹm. Mũi là Trung nhạc nên ngay ngắn, sống mũi trực thượng ấn đường không được vẹo, nhọn, gầy, khúc. 
Sách tướng viết:  
"Ngũ nhạc câu triều quý áp triều ban"  (5 nhạc chầu vàp nhau, chức vị đến bậc tể tướng)  
Chú ý: Lấy mũi làm chuẩn cho sự chầu.  
"Ngũ nhạc thành toàn thì tiền tài tự vượng" 
B) TAM ĐÌNH: 
Gồm có trán, đầu và cằm (xem ở trên) đòi hỏi dài ngắn cân xứng.  
Sách tướng viết:  
"Thượng đình trường thiếu niên mang" (tuổi trẻ vất vả)  
"Trung đình trường phúc lộc sương" (có phúc lộc)  
"Hạ đình trường lão cát tướng" (tuổi già hưởng thụ)  
Nếu tam đình không bình đẳng thì cứ căn cứ ba câu phú đoán trên mà xét. 
6 - Coi Ngũ quan
+ Mi (lông mày) là Bảo thọ quan nên thanh cao sơ tú, cong dài, cách mắt hai phân là tốt. Đuôi mày nên chếch lên phía thái dương gọi là "mi phất thiên sương" (coi ảnh Chu Ân Lai thấy rõ). Người nào có bộ lông mày thô đậm, vàng lợt tán laọn, áp xuống mắt thì thuộc tướng hình hại.  
+ Mắt là Giám sát quan nên đen trắng rõ ràng (phượng nhãn, tương nhãn, long hổ nhãn, hầu nhãn...). Mắt nên có tinh thần ẩn bên trong chớ lộ ra ngoài, trông thấy vẻ tự nhiên thanh tú hoặc tự nhiên có uy lực. Nếu là mắt rắn, mắt ong, mắt heo thường lộ 4 phía lòng trắng (tứ bạch), hoặc có xích mạch (sợi đỏ) đâm ngang con ngươi, trắng đen lẫn lộn, hoặc thần quang quá lộ, hoặc hôn muội là tướng hung, bại ngu tướng.  
+ Tai là Thám thính quan không cứ to nhỏ, chỉ cần luân quách (vành tai ngoài và vành tai trong) phân minh. Tai trắng hơn mặt cực tốt! Thuỷ nhĩ (tai mọng như nước); Thổ nhĩ (tai lớn và dầy); Viên kỳ nhĩ (tai tròn như quân cờ); Điếm não nhĩ (tai áp sát vào đầu, đối diện không thấy); tai cao hơn lông mày, sắc tai hồng nhuận, lỗ tai nhỏ đầu là loại tai tốt tướng. Loại tai chuột mỏng vểnh; tai đuôi tên (nhọn vát); mộc nhĩ (lăn quăn); luân quách phản - đều là tướng xấu!  
+ Mũi là Thẩm biện quan nên đầy nở, thẳng cao. Những loại mũi tốt là: Long hổ tị, tài đồng tị (như ống trúc chẻ), thịnh nang tị (mũi như túi đầy); huyền đởm tị (mũi như trái mật treo). Mũi phải đoan chính không vẹo, không thô, không nhỏ mới hay. Những loại mũi xấu là: mũi chó, mũi chim ưng, mũi nhọn như mũi dao, mũi chia khúc, lỗ mũi lộ, mũi hếch, mũi có sống mũi cao lộ cốt gọi là "cô phong tị". Ai có những mũi xấu kể trên đều là bần, khổ, ác, tham, làm cái gì cũng hỏng.  
+ Miệng là Xuất nạp quan. Miệng tốt tướng là miệng có đôi môi hồng, răng trắng, nhân trung sâu dài, hình dáng như trăng treo hay là vòng cung. Miệng chữ tứ, miệng vuông to như miệng hùm, miệng hình dáng tựa con thuyền bị lật úp, miệng cá ngão, môi ngắn răng lộ, môi đen, môi mỏng miệng thô đều là tướng xấu. Miệng xấu tất bị mười năm khốn khổ! 
7 - Coi lưng, bụng. 
Ngực bằng, đầy, eo tròn, lưng đầy và bụng dưới to hơn, da dẻ mịn màng là tốt. Kỵ lưng thành hố sâu, lưng mỏng, vai so, eo nhỏ (trai thì phải có vai, gái nên vai xuôi, vai nhỏ). Mông cần nở nang, bằng bặn, không nên lớn thô. Bụng nên trễ xuống nghĩa là bụng dưới to. Nếu khoảng trên lớn, khoảng dưới thót là bụng chim sẻ, bụng chó rất xấu.  
Sách tướng viết:  
"Yêu viên bối hậu phương bảo ngọc đới triều y" (Eo tròn, lưng dầy thì ăn lộc của triều đình)  
"Sậu nhiên bất dị khảng khái quá nhân tất chủ phát đạt phú quý" (Tính tình khẳng khái, cương nghị hơn người tất sẽ phát đạt phú quý)  
Riêng về tướng đàn ông, nên để ý câu sau đây:  
"Đầu đại vô dốc, phúc đại vô nang bất thị nông phu, tất thị đổ bác" (Đầu to mà không có góc cạnh, bụng lớn mà không có ụ nổi, nếu không chân lấm tay bùn thì cũng rạc dài cờ bạc)  
Sách tướng viết:  
Nam tử eo nhỏ khó lòng có tiền, thêm yểu triết, ngực ưỡn đít cong thì chịu trăm ngàn cay đắng. Nữ tử thì phải chịu phận nô tì. 
8 - Coi chân tay. 
Tay phải dài, chân phải có bụng chân chứ đừng có sác như que củi, chớ có nổi gân chằng chịt. Bàn tay nên nhiều đường nét lạ, màu sắc hồng nhuận, da thịt mềm mại. 
9 - Coi tiếng nói và tâm trạng. 
Sách tướng viết: "Tâm bất chính tất nhãn gian tà".  
Muốn nhìn sự việc trong tâm thì coi đôi mắt. Mắt hiền mắt ác biết tâm hiền tâm ác. Mắt nhìn lên thì tâm sự cao thượng, mắt trông xuống thì tâm sự băn khoăn. Mắt chuyển động mà không nói là trong lòng nghi ngờ, lo lắng. Mắt tà thị là loại người "khẩu phật tâm xà", ích kỷ hại nhân. Mắt nhìn thẳng thắn là người trung chính. Mắt ác tâm tất ác, mắt hiền tâm tất từ. Ai dư dả tiền bạc, lòng quảng đại vui sướng đều thấy hiện sắc chôn vàng đỏ ở nơi ngoạ tàm (dưới mắt) và ấn đường. Đàn ông tiếng nói như sấm sét, như chiêng đồng, như tiếng vang trong chum, tiếng dài có âm hưởng thì dù tướng mạo không đẹp lắm cũng có thể phú quý. Người nhỏ tiếng lớn, người lớn tiếng oai vệ, thanh âm xuất tự đan điền đều được hưởng phúc lộc lâu dài. Kẻ bần tiện yểu chiết tiếng nói líu ríu, nhẹ bấc, hoặc tán mạn (không tiếp nối đều đặn) hoặc như thanh la vỡ, trống thủng, tiếng khô khan khó nghe. 

Thứ Ba, 16 tháng 7, 2013

Nốt ruồi và Số mệnh

Thông thường ai cũng có nốt ruồi. Nốt ruồi có màu vàng lạt hay màu nâu v.v. Nốt ruồi phải thật đen hoặc thật đỏ mới tốt. Nốt ruồi đỏ còn gọi là nốt ruồi son. 

Sau đây là vị trí và ý nghĩa của một số nốt ruồi trên cơ thể để các bạn tham khảo cho vui lúc rãnh rỗi, nhưng đừng quá tin bạn nhé! 
Muốn đoán chính xác cần biết phối hợp nhiều thứ với "tướng mệnh học"!
Nốt ruồi là những chấm có màu sắc đen, nâu, xanh hay đỏ hồng (nốt ruồi son), nổi trên toàn thân người,

còn không nổi mà bằng phẳng có những màu đen xám, xanh vàng, to gấp nhiều lần nốt ruồi gọi là bớt.

Theo khoa học phân tích:
- Nốt ruồi màu nâu, đen là do những tế bào có sắc tố tập trung lớp ngoài da tạo nên.

- Nốt ruồi xanh do những tế bào sắc tố dưới lớp chân lông tạo thành.

- Nốt ruồi đỏ hồng do những vi huyết quản phình lên mà có, là những chấm nhỏ màu đỏ, thường xuất hiện nhiều ở vuùng ngực, trên da mặt.

Chúng ta có thể tẩy dễ dàng những loại nốt ruồi màu nâu, đen vì ở ngoài da. Còn màu xanh hay đỏ, nếu tẩy sẽ gây ra những vết thẹo nhỏ.

Nhiều người vì mê tín mà đem tẩy những nốt ruồi to xuât hiện trên khuôn mặt, nhưng không hiểu tính chất của từng loại nốt ruồi đâm làm tổn thương đến chính bản thân.

Trong tướng pháp nói rằng: - Con người sinh ra những nốt ruồi như núi sinh ra cây cỏ, đất nổi đồi gò. Núi đẹp thì cây đẹp, đất xấu thì gò đồi xấu xí. Nên người có tố chất đẹp thì sẽ sinh ra những nốt ruồi đẹp đẻ, duyên dáng, còn có tố chất xấu thì nốt ruồi biểu hiện tính chất xấu của nó.

Cho nên những cái xấu cần phải ẩn nơi kín đáo, không đê lộ và đôi khi trở thành nốt ruồi ẩn tướng, mọi người khó có thể suy đoán ra tính tình, cốt cách. Còn những nốt ruồi son mà ẩn thuộc quý tướng. Nốt ruồi đen mà lộ quá nhiều là điềm hung, ẩn nơi kín đáo là kiết. Mọc trên mặt nhiều là hại bất cập lợi; nốt ruồi đen thì phải thật đen tránh màu nâu hay xám tro, còn nốt ruồi son phải đỏ như chu sa mới tốt.

Đen pha đỏ là nâu, chủ về người thích tranh cãi, biện luận; pha màu trắng thành màu xám tro, chủ về tai nạn, bệnh tật; pha màu vàng ra xanh đục, chủ về đảng trí.

Sách "Thần tướng toàn biên" khi nói về nốt ruồi: - Mọc ở đầu và mặt : mọc ngay giữa trán là chủ phú quý, gần thiên đình là cực quý. Trên trán có 7 nốt ruồi đen chủ đại phú, đại quý. Mọc ngay Thiên trung thì hại cha, ngay Ấn đường là hại mẹ, ở Tư không thì hại cả cha lẫn mẹ.

- Mọc hai bên vành tai chủ về trí tuệ, thông minh, trong tai là chủ sống thọ, nếu bên tai trái chủ về tiền của.

- Mọc ở khoé mắt làm tướng lục lâm thảo khấu, trên con mắt mọc nhiều là khốn khổ, dưới con mắt là có lộc bất ngờ, trong lông mày chủ về công danh, phú quý.

- Mọc ở Sơn căn chủ về nghiệp binh đao "sinh nghề tử nghiệp"; mọc bên mũi đau khổ đẫm lệ, trên sống mũi suốt đời truân chuyên, trì trệ; ở chuẩn đầu mũi đề phòng chết vì súng đạn, gươm đao.

- Mọc ở Nhơn trung dễ cưới vợ lấy chồng giàu sang, bên mép miệng khó giữ được của cải, mất địa vị. Trên môi chủ về lộc ăn, dưới môi là phá của. Trên lưỡi là hay loạn ngôn...

Trong tướng pháp cho rằng, nốt ruồi mọc trên thân thể con người được chia làm ba phần: Một ở đầu và mặt, hai ở tay chân và ba ở hai phần trên dưới hạ bộ.

Về phần đầu và mặt lại chia ra những vùng nhỏ phức tạp, như cùng với tóc, nốt ruồi mọc trong tóc là ẩn, chủ về giàu sang phú phú, trường thọ, càng lên đỉnh đâu càng quý tướng. Trên trán có "thất tinh" chủ về đại phú, đại quý...

Đây là phần quan trọng, chủ yếu trong cách xem nốt ruồi, còn tay chân không quan trọng, chỉ nên thêm phần trên dưới hạ bộ, tức từ rún (rốn) trở xuông bẹn là cần xem.

Bản chất, ý nghĩa và phương pháp giải đoán nút ruồi

Nốt ruồi (english: birthmark) ví như cây trên núi, mô đất nơi đồng bằng. Núi có mỹ chất thì sinh cây quý để tỏ tú khí của núi. Đất tích ô thổ thì sinh những thứ quái ác. Lý lẽ vạn vật là như vậy. Đến như con người, nếu chứa chấp mỹ chất sẽ nảy ra Hắc tử (mụt ruồi) để hiển hiện điều quý, nếu mang chất dơ đục sẽ sinh “ác chí” để hiện cái tiện. 
Nói chung nốt ruồi chết, đục, tĩnh, hở là xấu hoặc nếu ở vị trí tốt thì cũng không mạnh bằng. Nốt ruồi sống, đỏ, động, kín là tốt. Nếu nốt ruồi màu đen, thì phải đen hẳn mới tốt. Riêng về nốt ruồi động, nó thường làm cho người đàn bà thêm duyên dáng, cười đã đẹp mà còn có nốt ruồi duyên nữa thì khả ái biết mấy. 
Có một số lý thuyết gia tướng học quá khích cho rằng “diện vô thiện chí” không nốt ruồi trên mặt nào là tốt cả. Các tướng sư lại lập luận là tùy vị trí, tùy màu sắc và nốt ruồi trên mặt, nếu được che đi thì lại càng tốt, tỉ dụ mọc trong lông mày, được lông mày che đi. Tàn nhang cũng tương tự, nhưng hầu hết đều có ý nghĩa xấu.

TƯỚNG VỀ NỐT RUỒI :

1/. Nốt ruồi mọc ở góc trán : đa phu, háo sắc
2/. Nốt ruồi mọc ngay giữa trán, khắc phu và hại chồng
3/. Các nốt ruồi mọc gần mắt, ấn đường *, sơn căn, mũi, ngư vỹ *, lệ đường, đều xấu : hại chồng, khóc con
Ngư vỹvị trí : ở phía ngoài đuôi mắt 0,1 thốn (0,33cm). * Ấn Đường,vị trí : ở giữa hai đầu lông mày.
4/. Nốt ruồi mọc trên lưỡng quyền, tính hay đố kỵ, nhỏ nhen
5/. Mọc bên hai cánh mũi, pháp lệnh : Xấu, hại con hại chồng
6/. Nốt ruồi mọc trong tai, hoặc gần tai : thọ, thông minh, và hiếu thuận
7/. Nốt ruồi mọc ngay nhân trung : dể có song sinh
8/. Nốt ruồi mọc xung quanh miệng: ham ăn và luôn có lộc ăn
9/. Nốt ruồi mọc dưới miệng, khó giữ của
10/. Nốt ruồi mọc ngay giữa cằm : sát phu
11/. Nốt ruồi mọc trong khu vực trước của cổ : giàu
12/ Mọc trên hai đầu vai: khổ sở, bần tiện
13/. Mọc ngay chổ kín, xung quanh âm hộ, hay ngay âm hộ, nếu đen thì tốt, màu đỏ son thì vượng phu ích tử.
14/. Nốt ruồi màu như tàn tro mà đóng ở ngay sơn căn (*): chết bất đắc kỳ tử
15/. Nốt ruồi mọc ngay đầu mũi : có chồng chẳng ra gì
16. Nốt ruồi mọc trong lông mày, ngọc ẩn trong mây, rất tốt, gia đình hạnh phúc, anh em hòa thuận và quý hiển.
Tóm lại, mụt ruồi sống hay chết, đen hay đỏ gì cũng không nên mọc trên khuôn mặt vì ví như một thửa ruộng tốt mà khi không ngay chính giữa nổi lên một cái gò mối, hay một ngôi mộ cổ, thì thữa ruộng đó có vẽ không thông suốt, và mất mỹ quan cũng như giá trị giãm đi của một khu đất tốt (trừ mụt ruồi duyên mọc gần miệng hay trên môi ra).
Nốt ruồi nên mọc kín trong cơ thể, phải là nốt ruồi sống, đỏ hay đen tuyền, thì mới tốt. Nốt ruồi mọc ở những chổ càng kín đáo thì càng tốt, càng kín đáo đặc biệt bao nhiêu thì càng quý bấy nhiêu.
Xem nốt ruồi mọc trên mặt (H1)

NHỮNG NÉT TƯỚNG NỐT RUỒI

a/-Bản chất và ý nghĩa : Trong thuật ngữ của tướng học, danh từ nốt ruồi mọc trên mặt ruồi bao gồm :
Những dấu chấm trên làn da hoặc chìm trong da (tục ngữ gọi là tàn nhan hay bã chè), có hình dáng hơi tròn, hoặc tròn, có thể nhỏ như đầu đinh ghim hoặc lớn bằng đầu nén hương thông thường đang đốt cháy. Loại này người ta mệnh danh là tử chí hay nốt ruồi mọc trên mặt ruồi chết.
Những dấu chấm nổi cao hơn mặt da 1 cách tự nhiên (mụn cóc không được coi là nốt ruồi mọc trên mặt ruồi vì có nguồn gốc bịnh lý lan tràn rộng hay bị thu hẹp nhờ phép trị liệu y khoa thông thường), có thể lớn bằng đầu nén nhang hoặc nhỏ như hạt tấm. Loại nốt ruồi mọc trên mặt ruồi này được gọi là nốt ruồi sống (sinh chí).
Về mặt màu sắc, nốt ruồi bất kể là loại sống hay chết đều có thể có các màu sắc sau đây :
- Màu xám tro – Màu đen lợt – Vàng đậm như hoàng thổ – Hồng lợt – Đỏ đậm như màu son tàu.
Nốt ruồi động và nốt ruồi tĩnh : động là mọc nơi bắp thịt được sử dụng để cử động như chung quanh miệng. Tĩnh là mọc những nơi không cử động như lổ tai, đầu, trán v.v.
Chỉ có hai màu đen huyền và đỏ đậm như son tàu mới coi là quý, những màu khác, tạp sắc chủ về hung hiểm, phá hại.
Nốt ruồi xuất hiện trên mặt, nhất là phái đẹp, nốt ruồi son hoặc mun có hình dạng vừa phải sẽ làm tăng thêm duyên dáng của nụ cười, ánh mắt. Xuất hiện ở các bộ tĩnh vị, ví dụ như sống mũi trán làm giảm mỹ quan khuôn mặt. Về dự đoán sự tốt xấu căn cứ vào vị trí nốt ruồi, ta cần phải nhớ nguyên tắc cơ bản là nốt ruồi nên vừa phải và ở những chỗ khuất kín trên khuôn mặt, hoặc mọc sau lớp quần áo thường có ý nghĩa tốt, trái lại là xấu.
Sách Tướng Lý hoành Chân, bàn về nốt ruồi có nói : “Nốt ruồi đối với con người cũng như cỏ cây đối với núi non, gò đống đối với địa thế của đất đai. Chất đất tốt thì sinh ra cây cối tươi tốt, chất đất cằn cỗi thì sinh ra cây cỏ héo úa, xấu xa. Người có nội chất tốt thì ra nốt ruồi đẹp cho thế nhân biết được cái đẹp. Người có bản chất xấu thì không sao có nốt ruồi đẹp được.
Nốt ruồi nổi lên tượng trưng cho một gò đống đối với mặt đất, cho nên nó phải ở nơi kín, nên ẩn tàng mới quí. Gò đống hiện ra ngay giữa đường đi lối lại hay sân vườn gây cản trở, làm mất mỹ quan, nhưng ở nơi rừng núi lại góp phần vào việc làm gia tăng cảnh trí của địa thế.
- Trên mặt tượng trưng cho sảnh đường, những đường giao tiếp trên mặt tượng trưng cho đường giao thông lớn (thông cù). Nếu mọc ngay nơi sảnh đường thì làm hại khí tượng sảnh đường, mọc ở thông cù thì trở ngại cho việc đi lại.
- Nốt ruồi nằm nơi “sơn lâm cùng cốc” thì sinh được “hoa thơm cỏ lạ” như ở tóc, chân mày, râu, tóc mai, hoặc ở những bộ phận kín trên mình, đó tượng trưng cho sơn lâm. Vì vậy sách có câu : “Mặt không có nốt ruồi thì tốt. Trong mình không có nốt ruồi thì xấu”.
Bởi vậy, nốt ruồi không nên hiện ra TRÊN TRÁN, MŨI (mũi và trán ví như đường cái hoặc sân vườn) mà nên hiện ra ở chân mày, chân tóc (những nơi này với khuôn mặt ví như thâm sơn hiểm cốc).
Ông Hoành Chơn Nhã xem tướng luận về nốt ruồi có nói : “nốt ruồi như núi có rừng cây, đất có đồi gò. Núi có chất tốt thì sinh cây quí, xum xuê tỏ ra có tú sắc đẹp đẽ. Đất mà ô trọc thì sinh giống ác thảo để phô chất xấu cũng như ngọc lành có tì vết, hột xoàn có vết than. Lẽ của vạn vật cũng như vậy. Người mà sẵn có tố chất tốt đẹp thì sinh nốt ruồi tốt, đặc biệt để phô vẻ tốt, nếu xấu thì có những nốt ruồi xấu để tỏ việc ti tiện. Nốt ruồi đen mà ở nơi lộ liễu quá thì hung nhiều, ở nơi kín đáo thì cát nhiều, sinh trên mặt phần nhiều là bất lợi. Nốt ruồi đen thì thật đen mun, còn son thì phải được như màu son (đỏ hồng) thì mới tốt. Đen mà có pha màu đỏ thì chủ người nói nhiều, hay tranh biện, pha màu trắng thì chủ việc hay lo sợ, tai ách; pha màu vàng thì chủ hay quên, để thất thoát đồ vật”.
Từ những điểm trên ta thấy phép giải đoán sự cát hung của mụt ruồi có thể được thu gọn vào 3 điểm chính :
1/- Bản chất mụt ruồi (chìm hay nổi)
2/- Màu sắc (tốt xấu)
3/- Vị trí xuất hiện (đúng hay trái chỗ)

b/-Phương pháp giải đoán
Trong 3 điểm chính trên thì vị trí nốt ruồi đóng vai trò chính, còn cách cấu tạo và màu sắc chỉ có giá trị thứ yếu.
Xuất hiện đúng vị trí thích nghi là nốt ruồi sống, không lớn không nhỏ, màu đen hoặc đỏ sậm khá rõ rệt là điềm rất tốt. Sắc bóng và đậm chủ yếu về sự việc nhãn tiền, lợt dần chủ về việc quá khứ, đậm dần chủ về tương lai. Nếu nốt ruồi chết, hình dạng méo lệch thì xấu dù là màu sắc gì đi nữa.
Xuất hiện không đúng vị trí ngoài ý nghĩa đặc thù do vậy từng vị trí nốt ruồi sống cực xấu, nốt ruồi chết xấu vừa, hình dạng lớn nhỏ cũng ảnh hưởng tới sự xấu : lớn xấu nhiều, nhỏ xấu ít. Về màu sắc thì sắc đen huyền đỏ sậm giúp cho mụt ruồi sống, không lớn không nhỏ, mọc sái chỗ, sửa chữa phần nào tính chất xấu của vị trí và có ý nghĩa là tiền hung hậu kiết. Nếu mụt ruồi sống mà là các màu tạp sắc hoặc không phải là đen huyền hay đỏ sậm thì mới phải giải đoán là cực xấu.
Người da trắng mà mặt mày châu thân có nhiều nốt ruồi chết màu đen bóng chủ về thông minh, nhưng háo sắc, màu vàng khô chủ về ngu đần đê tiện.
Người cao ốm mà tuổi thiếu niên mặt và thân hình có nhiều nốt ruồi chết cỡ lớn rải rác, màu sắc hỗn tạp chủ yếu về yểu thọ.
Người mập và trẻ, có các nốt ruồi chết hiện lên trên thân hình, diện mạo thì yểu, nhưng ngoài ngũ tuần, mặt và tay chân nảy sinh ra. Bất luận màu gì miễn là có sinh khí thì đó là dấu hiệu trường thọ.
Nơi đây là ý nghĩa của mụt ruồi trên 1 số bộ vị quan trọng của khuôn mặt (H2)

Chú giải :
Thiên : chủ về không được thân cận những người quyền quí trai thường khắc cha, con gái thường làm tổn hại chồng.
Thiên đình : chủ yếu không được hưởng hạnh phúc của cha mẹ, đặc biệt là khắc mẹ.
Tư không : thường nói bao quát cả cha mẹ và có ý nghĩa tương tự như 2 bộ vị trên. Đàn bà thường suốt đời khổ vì chồng. Ngoài ra về mặt tai họa, nếu kẻ đó, bất luận nam nữ mà nghề nghiệp khiến thường xuyên phải tiếp xúc với các loại hỏa khí như lính cứu hỏa, hỏa đầu quân (đầu bếp), thợ luyện kim, v.v… thì trong đời khó thoát khỏi tai nạn về lửa, ít nhứt một lần.
Ấn đường : Mụt ruồi sống nhưng phá cách chủ về ý chí bạc nhược, làm việc có đầu không đuôi, nếu đắc cách hoàn toàn chủ về quí hiển.
Sơn căn : chủ về hình khắc (trai khắc vợ, gái khắc chồng). Nếu chính giữa sơn căn và tiếp giáp với niên thượng có mụt ruồi sống mà sắc như tàn tro chủ về chết bất đắc kì tử.
Sơn căn có vị trí ở trên giữa sống mũi, giữa đường ngang bên trong hai khóe mắt.
Sống mũi (bao gồm cả niên thượng, thọ thượng) : chủ về nghèo khó, thân thể bịnh tật. Đàn ông dễ bị đàn bà hiếp chế, đàn bà dễ bị chồng làm khổ.
Chuẩn đầu : chủ về khó tránh khỏi hao tổn tiền bạc và cũng có ý nghĩa vì háo sắc mà tốn của (chung cả nam lẫn nữ). Riêng đối với đàn bà, còn có một trong nhiều ý nghĩa quan trọng cho biết là số có chồng tính tình độc hại, nham hiểm.
Nhân trung : tại đây có nốt ruồi là một điểm cực xấu vì đó là nơi cho biết khá chính xác về thọ yểu, con cái (nhất là đàn bà vì ngoài ý nghĩa chung cho cả 2 giới còn có ý nghĩa đặc biệt là tử cung dễ bị bịnh)
Thực thương và lộc thương : chủ về hệ lụy do ăn uống mà ra (bị bịnh vì ăn uống, miệng tiếng vì ăn uống v.v…)
Thừa tương : khó tránh khỏi vì ăn nhậu mà ngộ độc hay chết vì rượu nhất là vào khoảng 54 tuổi
Miệng, môi : ham ăn và có ăn luôn luôn
Địa các : chủ về tai họa, tốn tiền hại của, do người quen biết gây ra (chẳng hạn đứng bảo lãnh cho ai thuộc về một việc liên quan đến tiền bạc, ruộng vườn v.v…)
Lệ đường (Cung phu thê) : chủ về đàn ông thường hay trai gái, nếu không lấy thêm vợ bé thì cũng lăng nhăng. Đàn bà khó tránh khỏi cảnh tái giá.
Lưỡng quyền : lưỡng quyền thấp lại có mụt ruồi, quyền của mình bị người khác chiếm đoạt hoặc vì người mà mang lụy đến thân khiến cho quyền uy của mình bị tổn hại.
Người xưa có câu : “Uy nghi là nhờ đôi mắt, lưỡng quyền và thần khí”. Đàn bà lưỡng quyền cao, người hung dữ lấn áp chồng, sát phu, hại chồng, hoặc là người rất dâm đãng.
Người Tàu ngày xưa chọn vợ cho vua, vòng loại đã kỵ người có lưỡng quyền nhô. Đàn ông lưỡng quyền nhô là loại người nham hiểm hoặc ác độc, luồn cúi người trên, đè đạp kẻ dưới quyền. Xương lưỡng quyền còn gọi là đông nhạc (lưỡng quyền bên trái) và tây nhạc (lưỡng quyền bên phải), cả hai được gọi là “nhân phủ”. Lưỡng quyền không được nhô lên hoặc lõm xuống, cũng không được kéo dài đến mai tóc mới là tướng phúc và quý. Lưỡng quyền cao là tướng xấu, nữa cuộc đời bị hại.
Lưỡng quyền là xương hai bên gò má. Tiếng Anh : cheekbones, tên y khoa: zygomatic bones.
Tai : ở phía trên, chủ thể về cá tính con người hiếu hạnh, ở phía dưới chủ về thông minh.
Ngũ Nhạc : là năm vị thần trông coi 5 ngọn núi thiêng của tàu gồm đông nhạc (Thái sơn), tây nhạc (Hoa sơn), nam nhạc (Hành sơn) là trán, trung nhạc (trung tâm, Tung sơn) là mũi, bắc nhạc (Hằng sơn) là cằm.
Trong sách Thần Tướng Toàn Biên luận về nốt ruồi ở trên đầu và mặt có nói :
Đàn ông có nốt ruồi sinh ngay giữa trán là chủ phú quý, gần trên đó là cực quý. Trên trán có 7 điểm đen chủ đại quý. Sinh ngay Thiên trung thì hại cha, ngay Thiên đình là hại mẹ, ở Tư không thì hại cả cha mẹ, ở ngay Ấn đường là chủ quý.
Nốt ruồi mọc ở hai vành tai chủ trí tuệ thông minh, trong tai chủ sống lâu, ở tai trái chủ có tài của, ở khoé mắt làm chủ giặc, nốt ruồi trong tròng trắng mắt là người cực kỳ nham hiểm, trên sơn căn chủ việc khắc hại, dưới sơn căn chủ chết vì binh đao, bên mũi bịnh lao khổ mà chết, trên con mắt nhiều cùng khốn, trong lông mày chủ phú quý, dưới mắt chủ tốt có lợi, đầu chót mũi phòng bị chết vì gươm đao, ở sống mũi bị truân chuyên và nhiều hư trệ, ở nhơn trung dễ cưới vợ, bên mép miệng khó giữ của, trong miệng chủ có ăn uống, trên lưỡi chủ nhiều hư ngôn, dưới môi phá tài của, mép miệng chủ mất chức quyền.
Ở Thừa tương chủ việc say rượu mà chết. Ở Tả sương chủ có “nhất của hoành thất” (vô cớ mà của bị mất mát). Ở Cao quảng hại cha mẹ, ở Xích dương chủ chết đường, ở Phụ giác chủ chết vì binh đao, ở Biên địa chủ chết ở nơi khách (không ở nhà mình), ở Sơn lâm chủ bị sâu bọ làm bị thương, ở Hổ giác chủ chết trong quân lính. Ở Kiếp môn bị tên bắn chết, ở Thanh lộ thì ra đường bị thương vong. Ở Thái dương* có vợ hoặc chồng tốt, ở Ngư vỹ * chủ chết ở chợ, ở Gian môn chủ chết đâm. Ở Thiên tỉnh chủ chết nước, ở Lâm trung là người thận trọng trong sạch, ở Phu tòa bị chồng chết. Ở Thuê Tòa bị chết vợ, ở Trường nam chủ khắc con nhỏ. Ở Kim quĩ chủ phá bại, ở Thượng mộ chủ không được chức quyền, ở Học đường chủ người vô học, ở Mạng môn chủ hỏa ách, ở Bậc sử chủ làm giặc, ở Anh môn chủ đói lạnh”.
Thái dươngvị trí: ở giữa đuôi lông mày và đuôi mắt lùi về sau khoảng 1 thốn (3,33cm) có chỗ lõm.

Nốt Ruồi trên Mặt – Đàn Ông (H3)

1. Yểu số 2.Cự phá 3. Khắc mẹ 4. Bạch Hổ 5. Khắc cha 6. Thanh cao 7. Tính tốt 8. Thanh long 9. Đại phú 10. Chết đường 11. Không nên đi xa 12. Tốt 13. Điền trạch 14. Quý hiển 15. Đại kiết 16. Ruộng vườn 17. Quan lớn 18. Phú Quý 19. Thông minh 20. Đại phú 21. Mất cướp 22. Yểu số 23. Tai nạn 24. Hỏa ách 25. Đại kiết 26. Phú 27. Xấu 28. Quan văn 29. Đại kiết 30. Chết nước 31. Tai ách 32. Xấu 33. Hỏa ách 34. Dâm ách 35. Hại con 36. Khắc mẹ 37. Hại vợ 38. Hại cha 39. Tốt 40. Xấu 41. Con chết 42. Không con 43. Ít con 44. Tốt 45. Có tài sản 46. Khắc vợ 47. Hại vợ 48. Quan ách 49. Ly biệt 50. Hiếu 51. Thông minh 52. Thủy nạn 53. Hại gia súc 54. No đủ 55. Nghèo khổ 56. Thọ 57. Thủy nạn 58. Giác khẩu (角口 hay cãi lộn, tranh chấp bằng lời nói) 59. Bần tiện 60. Khẩu thiệt 61. Ăn lộc 62. Chết vì rượu 63. No đủ 64. Thông minh 65. Phước lộc 66. Đại tài.

Nốt Ruồi trên Mặt – Phụ Nữ (H4)

1. Nhiều chồng 2.Mẹ chồng chết 3. Hại cha mẹ 4. Ít kẻ ăn người ở 5. Tái giá 6. Hại thân 7. Hại chồng 8. Ham sắc 9. Họa ách 10. Thọ 11. Hiếu sắc 12. Có chồng sang 13. Một đời chồng 14. Hưởng lộc 15. Tốt 16. Phước 17. Nhiều đời chồng 18. Một chồng 19. Không nên đi xa 20. Thông minh 21. Xung khắc 22. Chồng tốt 23. Đại phú 24. Chồng tốt 25. Xấu 26. Tốt 27. Nhiều con 28. Chồng sang 29. Chồng chết 30. Hại chồng 31. Mất cướp 32. Tốt lâu 33. Hiếu sắc 34. Ít con 35. Hỏa ách 36. Hại chồng 37. Xấu 38. Hại con 39. Chồng chết trước 40. Hiếu sắc 41. Có hiếu 42. Tự tử 43. Ghen tương 44. Chết nước 45. Bần tiện 46. Sinh đôi 47. Bần tiện 48. Sát con 49. Khẩu thiệt 50. Chồng bị hại 51. Thủy tai 52. Tật khổ 53. Bần tiện 54. Khẩu thiệt 55. Hại chồng 56. Có của 57. Có ăn 58. Thông minh 59. Có của 60. Thủy ách 61. Hại đứa ở.
Những điều kể trên chỉ là những điểm dễ thấy trên khuôn mặt. Ngoài ra nốt ruồi còn có thể mọc (hoặc từ lúc sơ sinh, hoặc tới một thời điểm nào đó trong đời) bất cứ ở đâu, trên mặt cũng như trên châu thân (chân tay, bụng, rún, cổ, âm hộ, dương vật v.v…). Do đó liệt kê tất cả với từng danh hiệu bộ vị riêng rẽ sẽ quá ruồm rà, nên soạn giả tóm tắt những ý nghĩa chính của nốt ruồi trên mỗi bộ vị thành từng sơ đồ, độc giả chỉ cần quan sát kỹ cũng đủ có một ý niệm khá rõ rệt về nốt ruồi.
Chú thích :
- Sơn căn là chỗ trũng ngay sóng mũi giữa hai khoé mắt.
- Hỏi : Nếu nốt ruồi không mọc đúng như trên hình vẽ thì không có sao phải không? Hay là chỉ cần mọc ở điểm gần gần trên hình vẽ thì cũng tính như vậy ?

Trả lời : Người ta thường nói có tin thì có linh, có kiêng thì có lành… Không có gì tuyệt đối, ngay cả với cái số của mình, vì :Tướng tùy tâm sinh – Tướng tùy tâm diệt -Tướng tốt xấu là ở cái tâm con người ! Vậy nếu có nốt ruồi ngay hay gần chỗ tốt thì hãy tin là tốt, nhưng có nốt ruồi ngay gần chỗ xấu thì… đừng tin.

Xem nốt ruồi trên mặt đàn ông



Xem Bói Nốt Ruồi Trên Mặt Đàn Ông
Hình 2 cho thấy khuôn mặt một người đàn ông thường hiện ra khoảng 41 nốt ruồi tại những nơi:

1- Hại cha mẹ.
2- Thích làm quan.
3- Làm quan to.
4- Chết vì tai nạn.
5- Không hợp nghề võ.
6- Số mất của.
7- Cuộc sống đầy phiền não.
8- Đi sông biển hãy coi chừng.
9- Mọi sự hanh thông.
10- Chuyện làm ăn hay gặp thất bại.
11- Quý tướng.
12- Giàu có.
13- Có địa vị̣.
14- Không nên đi sông biển.
15- Không tốt.
16- Tán tài.
17- Sát thê.
18- Ít con.
19- Hay tủi thân.
20- Mất cha.
21- Khổ vì vợ.
22- Mê cờ bạc nên tự hại mình.
23- Điềm con cái mất trước cha.
24- Tuyệt tự.
25- Ít con cái.
26- Xảo quyệt.
27- Thường gặp tai nạn.
28- Khi chết xa quê hương.
29- Không nên nuôi thú vật.
30- Ách giữa đàng mang vào cổ.
31- Gặp tai nạn từ sông nước.
32- Có của hoạnh tài.
33- Thông minh, lanh lẹ.
34- Thường rượu chè say sưa.
35 Gặp chuyện tốt đẹp.
36- Người hiền lành.
37- Số làm quan to (nếu ẩn dưới cằm).
38 - 39 - 40 và 41 đều tốt mọi sự (nếu nốt ruồi son, hay ẩn được hưởng phúc đức ba đời).

Xem Bói Nốt Ruồi Trên Mặt Phụ Nữ

Xem nốt ruồi trên mặt phụ nữ


Hình 3 là khuôn mặt một phụ nữ, có 42 nốt ruồi được diễn giải như sau:

1- Số làm mệnh phụ.

2- Thường chán chồng nhưng không đi tìm của lạ.

3- Hại cha mẹ.

4- Không người phục dịch.

5- Có từ hai đời chồng, sanh con ít.
6- Hại người thân.
7, 15, 19, 27, 37- Hại chồng.
8- Chết xa nhà.
9- Bị chồng phụ tình bỏ rơi.
10- Sanh khó.
11- Có tài lộc.
12- Chồng thường xa nhà.
13, 17- Vượng phu ích tử.
14- Số có “thiên la địa võng” giăng coi chừng tù tội.
16- Tay làm hàm nhai.
18- Được nhờ con.
20- Sống thọ.
21- Bị cướp giật nhiều lần.
22- Gặp nhiều việc tốt.
23- Tính lăn loàn.
24- Sanh ít con.
25- Mới sinh ra thường hay bệnh.
26- Mọi việc thất bại.
28- Số sát phu, tình duyên lận đận.
29- Hiếu thảo với cha mẹ, hay giúp đỡ anh chị em.
30- Biết nhường nhịn chồng con.
31- Có tư tưởng tự tử.
32- Hay ganh tỵ với kẻ khác.
33, 41- Đề phòng tai nạn đường sông nước.
34- Có số sinh đôi, sinh ba.
35- Có hư thai.
36- Tai tiếng thị phi.
38- Đày đọa đầy tớ vì ghen tuông.
39- Gặp tai nạn tại nhà.
40- Hay bệnh hoạn.
42- Sát Phu.
43- Khôn vặt.

Địa điểm các nốt ruồi mọc còn rất nhiều nơi trên thân thể, các sách cổ tướng học có ghi:
- Lưu Bang (nhà tiền Hán) có đến 72 nốt ruồi đen mọc nơi đùi trái, nên từ kẻ thất học trở thành Hoàng đế nước Trung Hoa sau thời kỳ Tần Thủy Hoàng.

- Tướng An Lộc Sơn thời nhà Đường, dưới lòng bàn chân đều có nốt ruồi đen. Trở thành tướng tài nhưng cũng lụy vì tình mà chết dưới chân Dương Quý Phi.
- Võ Tắc Thiên hậu Chu, người phụ nữ đầu tiên của nước Trung Hoa, nắm giang sơn xã tắc trong nhiều năm dài là nhờ có 7 nốt ruồi son mọc bên sườn trái (có sách nói bên vú trái).
Có một số nốt ruồi mọc nhưng trong sách tướng pháp ít không nói đến, tuy vậy các nhà tướng số vẫn đưa ra những lời giải thích:
Nốt ruồi mọc ở Cao Quảng số hại cha mẹ; ở Phụ giác, Kiếp môn, Hổ giác chủ về chết trận, chết vì gươm đao, tên bay đạn lạc; ở Biên địa, Xích dương, Ngư vĩ chủ về chết đường chết chợ; ở Sơn lâm, Thanh lộ đi đường bị súc vật làm tổn hại thân thể; ở Thái dương chủ về số có chồng hay vợ chung thủy, giàu sang; ở Phu tòa, Thuê tòa chồng hay vợ chết sớm; ở Trưởng nam, trung nam và thứ nam cha mẹ khắc con trưởng, con thứ; ở Kim quỹ gặp tán gia bại sản; ở Thượng mộ mất chức quyền; ở Học đường là người thất học; ở Mạng môn chủ về hỏa tai đề phòng cháy nổ v.v...

Xem bói nốt ruồi trên mặt, toàn thân thể phụ nữ và đàn ông

Xem nốt ruồi ở mặt và trên thân thể đàn ông


1: Nốt ruồi Thiên Trung Đỉnh: số được hưởng lộc quan tước, quyền thế có chức trọng, sống lâu. Dù gặp tai nạn vẫn qua khỏi.
2: Tả Trung Đỉnh: Nốt ruồi này chỉ cho biết người mang nó không sung sướng về tình yêu, trong đời dang dở về tình duyên hoặc bị phụ tình.
3: Hoạt Sào: Cho biết tâm lý của một người đa sầu đa cảm, bộc lộ tình cảm ra mặt.
4: Trung Thiên : Chỉ một người phục thiện,biết sửa sai sau khi lầm lỡ.
5: Dõng La : Người hay thương vay khóc mướn,nặng mặc cảm thường tủi thân phận.
6: Tâm Thảo: Người thường bị đau khổ âm thầm
7: La Thiên : người có nốt ruồi này có duyên và giàu tình cảm nhưng kín đáo
8: Bần Tiện : Suốt đời chỉ đi làm thuê và tính nết bần tiện ( bao gồm cả bên trái và bên phải, nếu cao hơn một chút cũng vậy)
9: Hoa Sơn : Gặp tai nạn có thể bất đắc kỳ tử
10: Tuyệt Luân : Trai sát vợ ,gái sát chồng,nhẹ dạ
11: Tả Phận : Góa chồng góa vợ sớm hoặc trắc trở lương duyên đau khổ không nguôi
12: Trung Phân: Nhiều tham vọng,chạy theo cao sang đua đòi vật chất
13: Hạ Phận: Người tự tạo ra của cải nhưng lãng mạn ,bạc tình
14: Trung Sơn : Nốt ruồi mọc gần vú,đẻ con nhiều nhưng sầu muộn về chuyện chồng vợ
15: Đỉnh Sơn : Thay vợ đổi chồng một cách dễ dàng
16: Con người chịu a dua nịnh nọt, nhưng kín đáo tình cảm
17: Thân Mẫu: Người hiền lành,bảo trọng hạnh phúc cá nhân
18: Trung Vĩ : Cực nhọc thể xác,tính bảo thủ,đố kỵ kẻ hơn mình
19: Hạ Hôn: Người hay ghen tuông,lãng mạn,dâm dục
20: Hoan Du : Thích đấu lý,người can đảm
21: Dãng Dục : Mê say thú vui thể xác
22: Thiều Manh: Mang tật nguyền hay gặp tai ương bất ngờ
23: Hạ Giới: thích phiêu lưu mạo hiểm
24: Lầu Xanh: Tâm hồn bệ rạc, trác táng.
25: Hạ Giới : Hay đi đây đó,không ở nơi nào nhất định
26: Hoàn Dục: Không gặp may trên đường công danh sự nghiệp
27: Vĩ Trùng: Tình cảm khó khăn,bênh hoạn
28: Sát Thê: Hại vợ hại chồng
29: Ngữu Vĩ: Sinh đẻ gặp khó khăn
30: Trung Hòa: Không giàu có,thường phải chật vật mới đủ ăn
31: Xuất Thê: Con người lơ lửng như ma hớp hồn,hay lo sợ băn khoăn vô cớ
32: Hạ Phận: Người hay đổi thay,tính tình gắt gỏng không dứt khoát
33:Trung Phận : Hay thay đổi tình cảm vợ chồng
34:Phú Quý: Giàu có hơn người ( bao gồm cả bên trái và bên phải )
35: Bạc Hào: Luôn luôn chỉ nghĩ đến tiền tài,vật chất
36: Thiên Căn : Người hiền hòa nhưng không gặp may trong đời
37: Hậu Vĩ: Tâm sự đa đoan, lệ chảy thường xuyên.
1: Nốt ruồi mọc nổi cao hoặc chìm tại giửa yết hầu
Nổi: nam nữ đô năng đắc giải ngẫu, bất kể nam hay nữ có nốt ruồi này đều tốt đẹp về mặt lương duyên. Hạnh phúc và hoạt động đều vượt bậc, chồng nói vợ nghe rất thuận thảo.
Chìm: hôn nhân sớm quá đều bất lợi. Lấy chồng sớm ắt có người phải chết sớm.
2: Nốt ruồi mọc ngay dưới yết hầu
Nổi: tính ưa nay đây mai đó, không ở yên nơi quê quán, dong duổi trên đường trường.
Chìm: dễ bị tai ương về xe cộ.
3: Nốt ruồi bên vai phải
Kể cả nổi hay chìm: người rất thận trọng, đôi khi trở thành tư lự xấu xa, vì quá thủ phận mà thành ra có tính khiếp nhược, thận trọng, nhi tâm tư lự chi tướng.
4: Nốt ruồi mọc trên vai trái
Nổi + Chìm: ưa sự luận bàn phải quấy, thích đi quá mức với bổn phận của mình, thành ra con người trở thành cứng cỏi, tranh khôn khiến cho người khác thù hiềm.
5: Nốt ruồi mọc tại nhũ bộ, trên đầu vú hoặc bên ngoài quầng vú
Kể cả mọc chìm hay nổi: nếu mọc bên vú phải, là hạng người chỉ thường có bạn bè rượu thịt. Nói ra là chỉ gặp toàn bạn ăn hoặc bạn tiền bạc, lợi dụng. Nếu mọc bên vú trái: người biết lo lắng, có tính cần cù, mẫn cán. Thích hoạt động đi đây đi đó, là người không vung tay quá trán, ăn bữa sớm đã biết lo bữa tối. Đàn bà có nốt ruồi này thì chồng con được nhờ, là nội trợ  hiền thục, “vượng phu ích tử”.
6: Nốt ruồi mọc tại khuỷu tay phía trước cùi chỏ
Nổi: tinh thần không chịu khuất phục kẻ tiểu nhân, dùng sự hòa dịu để khắc phục mọi gian nan trở ngại, đó là tướng tốt.
Chìm: gặp được lương duyên giai lão, sống lâu trường thọ.
7: Nốt ruồi mọc ở mu (lưng) bàn chân
Kể cả chìm hay nổi: tướng rất lanh lợi về đường hoạt động, là kẻ không thích ăn không ngồi rồi. Nhưng ngược lại cũng là tướng chẳng được ổn trọng. Vì người ưa đả kích ,đối kháng nên tuy có lợi về đường hoạt động nhưng có hại ở sự thâm độc.
8: Nốt ruồi mọc trên đầu gối phải hoặc trái
Nổi: đây là tướng tốt, có lòng nhân từ, dù đối với người ngoài vẫn có lòng thân và thắm thiết thật tình.
Chìm: là người thô tục tàn bạo, cũng là kẻ ưa chú ý đến sự đề cao và rất tự ái cố chấp.
9: Nốt ruồi mọc ở rốn
Nổi: cao rõ ràng tại lỗ rốn thì tiền tài và thời vận đều tốt lành, được cảnh giàu sang đem tới.
Chìm: tài vận tuy có nhưng là người ưa lạm dụng chất chứa tiền tài làm của riêng, trong ý nói chớ tham lam của hoạch tài, tuy nhiên nốt ruồi mọc trong lỗ rốn dù mọc chìm hay nổi đều là tướng phước thọ.
10: Nốt ruồi mọc nơi giữa ngực giáp giới giữa ngực và bụng có chỗ lõm xuống thường gọi là tâm oa, phía dưới lớp da ngăn giữa ngực và bụng trên.
Nổi: tiền tài lợi lộc đều đẹp, tài danh phát triển, tài cán và danh vị đều nổi bật.
Chìm: ưa danh vị hão huyền, làm việc gì cũng nhiệt tình tới nửa chừng, dễ bị chán chường mỏi mệt và bỏ ngang.
11: Nốt ruồi mọc tại đùi trên trước bẹn, kể cả hai bên bẹn hay là hai bên háng, thuộc phía trước đùi trên
Chỉ cần có nốt ruồi từ háng trở xuống gần tới đầu gối thuộc về phía trước, bất kể nổi cao hay bằng phẳng đều là tướng tốt. Số được của cải, mỗi ngày một thêm sự giàu sang.
12: Nốt ruồi mọc ở chỗ kín của đàn bà hay âm hộ (cửa mình), trong phạm vi nơi này
Bất kể trong hay ngoài, chìm hay nổi, sắc đen hay đỏ đều có tính quật cường, ương ngạnh chẳng chịu phục tùng ai, nhưng là người có tài nội trợ và có danh lợi chức quyền.
1: Nốt ruồi mọc dưới cổ, tại hai bên gáy ở chỗ hai bả vai nhích lên.
Nổi: phía dưới hai bên cổ, nhích về phía gáy có nốt ruồi mọc nổi cao rõ ràng chẳng cần là đen hay đỏ đều là tướng có phước lành, cơm ăn áo mặc không thiếu thốn. Là người tự có lòng tín thực, tâm địa hùng mạnh ngay thẳng, khôn ngoan.
Chìm: nếu mà có nét ban (lấm tấm) mọc lộn bậy hoặc nét điểm mọc chìm là tướng chẳng có phúc hưởng lộc áo cơm.
2: Nốt ruồi mọc dưới xương bả vai
Nổi: bất kể lớn nhỏ mọc dưới xương bả vai đều có tướng giàu có, con người làm việc gì cũng có kế hoạch nhất định. Tướng này còn là người cẩn thận, rành rẽ và có ý chí mạnh mẽ, lớn mật. Mưu sự lo lắng bất kể chuyện lớn nhỏ cũng không bỏ sót. Đàn bà như vậy là vượng gia đình.
Chìm: không rõ ràng hoặc có nét ban lộn xộn (ban là nốt ruồi mọc lấm tấm li ti mờ mờ) là tướng thiếu sót kế hoạch mưu sinh. Lại cũng là tướng thiếu tín nhiệm về mọi khuynh hướng, vô sở định.
3: Nốt ruồi mọc tại hai bên mông, kể cả hai bên dù chìm hay nổi
Nốt ruồi bất kể loại nào mà mọc ở hai bên mông đều là có năng lực, nhưng lại chẳng có nhất định một khuynh hướng nào, người nhớn nhác, biếng lười. Dễ dàng chôn vùi cái tài hoa, làm nhụt cùn cả tư chất của mình. Gặp sao hay vậy, thấy động thì động, thấy tĩnh thì tĩnh. Mất tư chất thành ra con người không thật.
4: Nốt ruồi mọc tại bộ đùi, cả đùi trên và đùi dưới, kể từ dưới mông tới bắp chuối
Kể cả chìm hay nổi: Là người lắm mưu gian kế hiểm, thường làm ra việc có trước không sau. Đều là tướng tham sắc đẹp, nói một đàng làm một nẻo, khó biết rõ tính tình.
5: Nốt ruồi mọc tại cùi tay (cùi chỏ)
Nổi: trên cùi chỏ bất kể ở tay nào đều là người thích đi đây đi đó. Có đầu óc kinh doanh, không thích ngồi tại nhà. Con người không quản ngại mưa nắng để mưu sinh.
Chìm: nếu có nổi nét ban hoặc điểm lờ mờ là người khinh phù, nông nổi, và khuyết điểm về mặt xử sự, không nhất định ý chí. Mỗi việc làm đều thiếu nhẫn nại.
6: Nốt ruồi mọc tại bộ vị của lưng
Nổi: tại bên phải hay bên trái của eo lưng, nơi sau mạng mỡ đều là sướng tốt. Các công việc giao phó đều được thi hành sốt sắng, hết lòng làm cho bằng được. Còn là người luôn biết hạn chế cái dục tâm không vượt quá lễ nghĩa. Người có nốt ruồi này là người thật thà đầy đủ tín nghĩa. Làm bất cứ việc gì cũng có chuẩn bị, bước chân đặt xuống vững vàng trên mặt đất.
Chìm : là người dễ bất mãn, thường đối lập với các việc được giao phó. Coi việc gì cũng tầm thường, không suy xét, nếu eo lưng có mọc lấm tấm nét ban hay nét điểm.
7: Nốt ruồi mọc tại xương sống ngay giữa, hoặc hai bên tại chu vi nơi hai buồng phổi phía sau lưng
Nổi: người đàn bà nếu có nốt ruồi mọc nổi rõ ràng tại phía sau lưng khoảng chu vi hai buồng phổi đều là nét chỉ về bệnh hoạn, về hô hấp. Tuy rằng yếu tim hoặc khó thở, hô hấp yếu kém, nhưng cũng không quan trọng lắm vì có thể chữa, lại là tướng cách sống lâu.
Chìm : như nốt ban lộn xộn chẳng rõ ràng hoặc giống như cái bớt lang ben (xích điển hoặc bạch điển) là tướng ưa đái rắt đái són, thu vén như thần giữ của… là kẻ keo kiệt. Là người sinh ra đã có tính chậm chạp lừ đừ, ăn uống kham khổ. Tóm lại chỉ chú ý đến sự sống riêng cho mình.
8: Nốt ruồi mọc tại phía bộ dưới xương sống, ngay giữa hoặc hai bên trái phải
Nổi: rõ ràng tại lưng phía bao tử và ruột là tướng mắc phải bệnh, nhưng không nghiêm trọng vẫn mạnh như thường, tuy là có bị bao tử và ruột đôi khi quấy rối.
Chìm: nốt ruồi mọc chìm hoặc bừa bãi như nổi ban đen đỏ hay như bớt lang ben đều là tướng rất quan trọng tới bao tử và ruột gan, có thể phát bệnh trong nội tạng. Đàn bà gặp phải điểm này thì rất buồn phiền, bệnh tình thường lay lắt, biến chứng nọ tới chứng kia, tuy nhiên chẳng phải là số yểu.

Nút ruồi trên thân thể và chổ kín

(Xem tướng số) - Nút ruồi mọc nổi cao hoặc mọc chìm tại giữa yết hầu (xem giải thích bên dưới) : Nếu mọc nổi : bất kể nam hay nữ được mụt ruồi này đều tốt đẹp về lương duyên. Hạnh phúc, phu xướng phụ tùng, chồng nói vợ nghe rất hòa thuận.

Thân Trước(H6)
Nếu mọc chìm: hôn nhân sớm quá đều bất lợi, lấy chồng sớm ắt có người phải chết sớm. Ngay dưới yết hầu (xem giải thích bên dưới) : Nếu mọc nổi : Tánh ưa nay đây mai đó, không muốn ở yên nơi quê quán, thích dung rủi trên đường trường. Nếu mọc chìm : dễ bị tai ương về xe cộ
Giải thích : yết hầu tiếng Anh gọi là Pharynx, đoạn ống tiêu hóa dài khoảng 12 – 15 cm ở cổ họng người, gồm Nasopharynx, Oropharynx, Laryngopharynx. Cục yết hầu Larynx là sụn tuyến giáp. Hormone nam ở tuổi dậy thì tăng cường hoạt động khiến bộ phận này thay đổi, cục yết hầu nhô thêm ra ở cổ. Giọng các em bé trai và giọng thanh niên trai khác hẳn nhau (bễ giọng).
Chính thời gian dậy thì là khi giọng của bé nam thay đổi. Thanh quản rộng ra, dây thanh đới dầy lên và dài ra, giọng họ sẽ trầm xuống. Việc chuyển giọng có thể đột ngột, có thể dần dần. Thường người ta ít để ý quá trình đó, nhưng có một số em trai bối rối vì biến cố “bễ giọng”, nhưng đây chỉ là một hiện tượng nhất thời thôi, sau đó bạn sẽ có được chất giọng ấm áp của người đàn ông.
Nút ruồi mọc trên vai :bên phải (kể cả nổi hay chìm): người rất thận trọng, đôi khi trở thành tư lự xấu xa, có tính khiếp nhược. Thận trọng, nhi tâm tư lự chi tướng. Bên trái(kể cả nổi hay chìm): ưa thích biện luận. Ưa bàn luận phải quấy, thích đi quá mức với bổn phận của mình, con người cứng cỏi, tranh khôn khiến cho người khác thù hiềm.
Nút ruồi mọc tại nhũ bộ, trên đầu vú hoặc bên ngoài vành vú, kể cả mọc chìm hay nổi
Bên vú phải : là hạng người chỉ gặp toàn bạn ăn hoặc bạn tiền bạc lợi dụng.
Bên vú trái: người biết lo lắng, cụ bị, có tánh cần cù, mẫn cán. Thích hoạt động đi đây đi đó. Tả nhũ chi chí, cần mẫn tính cách. Hỉ ái bộ hạnh. Là người không vung tay quá trớn, ăn bữa sớm đã biết lo bữa tối. Đàn bà có mụt ruồi này thường chồng con được nhờ, là nội trợ hiền thục.
Nút ruồi mọc tại khuỷu tay phía trước cùi chỏ : Nếu mọc nổi: tinh thần không chịu thua dưới kẻ tiểu nhân, có chí khắc phục mọi gian nan trở ngại, đây là tướng tốt. Nếu mọc chìm: gặp được lương duyên giai lão, sống lâu trường thọ.
Nút ruồi mọc ở mu bàn chân, kể cả chìm hay nổi : Tướng rất lanh lợi về đường làm ăn, nhưng lại là kẻ thích ăn không ngồi rồi. Tướng chẳng được tôn trọng, là người ưa đả kích, đối kháng nên tuy có lợi về đường làm ăn nhưng có hại ở sự thâm độc.
Nút ruồi mọc ở trên đầu gối phải hoặc trái : Mọc nổi: đây là tướng tốt, có lòng nhân từ. Dù đối với người ngoài cũng vẫn có lòng thân và thắm thiết tận tình. Mọc chìm: là người thô tục tàn bạo, cũng là kẻ ưa chú ý đến sự đề cao và rất tự ái, cố chấp.
Nút ruồi mọc ở lỗ rún: mọc nổi cao rõ ràng tại lỗ rún thì tiền tài và thời vận đều tốt lành, được giàu sang đem tới. Moc chìm : tài vận tuy có, nhưng là người ưa lạm dụng chất chứa tiền tài làm của riêng. Tuy nhiên Nút ruồi ở lỗ rún dù mọc chìm hay nổi đều là tướng phước thọ.
Nút ruồi mọc giữa ngực, giáp giới giữa ngực và bụng có chổ lõm xuống thì gọi là Tâm Oa, phía dưới trái tim. Mọc nổi : Tài lộc giai hanh ngãi là tiền tài và lợi lộc đều tươi sáng. Công danh phát đạt, tài cán và danh vị đều nổi bật. Mọc chìm : Tướng ưa danh vị hảo huyền, làm việc gì cũng nhiệt thành tới nửa chừng, dễ bị chán chường mỏi mệt bỏ ngang.
Trần Đáo Trạch, có 7 nút ruồi son trên ngực, tục gọi là Thất tinh hội tụ là tướng cực quý. Trạch vốn sanh trong một gia đình rất nghèo, cha Trần Tấn Tài sinh sống bằng nghề làm ruộng, lúc Trần Đáo Trạch được 4 tuổi, một hôm theo cha ra đồng thăm ruộng, bị một kẻ bất lương cùng họ là Trần Tương lén dẫn đi bán cho một phú hộ là Từ Tử Lỗ, thấy Trạch có nút ruồi cực quý nên nhận ngay làm con, đổi thành họ Từ. Năm 20 tuổi. Trạch vào Bắc kinh thi, đậu trạng nguyên và được Minh Thần Tông tuyển làm Phò Mã ban cho cờ biển vinh quy. Khi tân trạng nguyên về đến Quảng Châu, hai họ Từ, Trần tranh nhau nhận người. Khi biết được câu chuyện, tổng đốc Quảng đông đề nghị hai họ nên nhận Đáo Trạch làm con chung, sau đó Đáo Trạch và Công chúa sanh con thì mang tên cả hai họ. Vậy là từ đó, con cháu Đáo trạng mang họ kép là Trần Từ, con cháu hai họ đều quý hiển, giàu có.
Đàn bà có nút ruồi ở ngực sanh quý tử.
Nút ruồi mọc tại đùi trên, trước bẹn, kể cả hai bên bẹn hay là hai bên háng, thuộc phía trước đùi trên, bất kể mọc chìm hay nổi : Chỉ cần có nút ruồi tại háng trở xuống gần tới đầu gối thuộc về phía trước, bất kể nổi cao hay bằng phẳng đều là tướng tốt. Số được của cải, càng ngày càng giàu thêm.
Nút ruồi mọc chổ kín của đàn bà, cũng gọi là âm hộ hay cửa mình : Trong phạm vi nơi này bất kể trong hay ngoài, chìm hay nổi, màu đen hay đỏ đều có tánh quật cường, ương nghạnh, chẳng chịu phục tùng ai. Nhưng là người có tài nội trợ và có danh lợi, chức quyền.
Nút ruồi mọc bất kỳ ở vị trí nào trên dương vật hay còn gọi là ngọc hành màu đỏ sanh quý tử, mọc ngay ở đầu ngọc hành cũng sanh quý tử. Màu đen đề phòng chứng Thượng mã phong, trong dân gian còn gọi là bị “trúng phòng” hay “phạm phòng”: xuất tinh liên tục đến chết, đột tử trong khi sinh hoạt tình dục (cách đề phòng và cấp cứu Thượng mã phong đọc thêm ở cuối bài).
Nút Mụt ruồi quanh bộ phận sinh dục, cả nam lẫn nữ đều thuộc loại người đam mê sắc dục. Nút ruồi chổ kín chủ sanh con tài giỏi, nhưng quan trọng là phải đi kèm với tướng mạo tốt: gái phải đoan trang, giọng nói nhẹ nhàng, rõ ràng và thanh, trai đi đứng ngay thẳng, nếu có những điễm phá tướng: giọng khàn, rè hay the thé, tướng ẽo lã, chưa nói đã cười, nói cười phun nước miếng, đi hai hàng, v.v. thì chỉ là hạng người đàng điếm, chơi bời, giang hồ mà lại khó tránh khỏi được bịnh phong tình.
Nút ruồi mọc trên bụng, là hai bên mạng mỡ : mọc nổi : bất cứ phía nào cũng đều là tướng người ưa tiệc tùng ăn uống, là người rất mạnh về ngôn luận. Mọc chìm : tướng vì rượu vì sắc mà dễ dàng lâm cảnh khốn khó, rối loạn tâm tư, có thể trở nên cướp bóc, sang đoạt lừa đảo, đi đến chổ gian truân.
Nút ruồi mọc ở hai nách : mọc nổi : người có tình cảm sâu xa, nghĩa nặng khiến cho người khác phái phải kính trọng, đam mê. Mọc chìm: tuy đẹp đẽ nhưng thiếu sự cuốn hút, cung phụng kẻ khác nên dễ bị moi móc, hiềm ghét, chê bai.


Thân Sau (H7)

Nút ruồi mọc ở cổ hoặc tại hai bên gáy chổ bả vai nhích lên : mọc nổi cao rõ ràng, bất kể đen hay đỏ, đều là tướng có phước, hưởng một cuộc sống cơm no áo mặc không thiếu thốn. Người tự trọng, có tâm địa hùng mạnh, ngay thẳng, khôn ngoan.
Mọc chìm hoặc không rõ rang : Tướng nghèo, không có phước hưởng lộc, áo cơm.
Nút ruồi mọc chung quanh cổ bất kể đỏ hay đen, nói chung đều là những người sống bằng nghề ăn nói.

Nút ruồi mọc ở dưới xương gu vai : mọc nổi rõ ràng bất kể lớn hay nhỏ đều là tướng giàu có, con người làm việc gì cũng có kế hoạch nhất định. Là người cẩn thận, rành rẽ và có ý chí mạnh mẽ. Mưu sự lo lắng bất kể việc lớn nhỏ cũng không bỏ sót. Đàn bà như vậy là gia đình được nhờ. Mọc chìm hoặc không rõ ràng hay có nét lộn xộn : tướng thiếu sót kế hoạch mưu sinh và thiếu tín nhiệm.
Nút ruồi mọc hai bên mông đít, kể cả chìm hay nổi, bất kể là loại nào : Là tướng có cụ bị và năng lực, nhưng không có một khuynh hướng lớn nào nhứt định, lười biếng. Dễ dàng chôn vùi mục đích của mình. Thấy động thì động, thấy tĩnh thì tĩnh, con người không chân thật, ba phải.
Nútruồi mọc tại bộ đùi, cả đùi trên và dưới kể từ mông đít đến bắp chuối, chìm hay nổi : Là người nhiều hiểm kế. Tướng tham sắc đẹp, nói một đàng làm một nẻo, khó biết rõ tánh tình.
Nút ruồi mọc tại cùi chỏ : mọc nổi trên cùi chỏ bất kể tay nào đều là tướng người thích đi đây đó. Có đầu óc kinh doanh, không thích ngồi tại nhà, không quảng ngại mưa nắng để mưu sinh. Mọc chìm: khinh người, nông nổi, nhiều khuyết điểm về mặt xử sự, không có ý chí nhất định, thiếu nhẫn nại.
Nút ruồi mọc tại lưng : mọc nổi bên phải hoặc trái của eo, lưng, sau mạng mỡ đều là tướng tốt. Các công việc giao phó đều được thực hành sốt sắng, hết lòng làm cho bằng được. Là người biết hạn chế các dục tâm không vượt qua lễ nghĩa. Người có nút ruồi này là người thật thà, đầy đủ tín nghĩa. Làm bất cứ việc gì cũng có chuẩn bị, bước chân luôn đặt vững trên mặt đất. Mọc chìm : người dễ bất mãn, khó hoàn thành các công việc được giao phó. Coi mọi việc luôn tầm thường, không suy sét trước sau.
Nút ruồi mọc ngay giữa xương sống, hoặc tại chu vi nơi hai buồng phổi phía sau lưng : mọc nổi rõ ràng: mụt ruồi này là có nét chỉ bịnh hoạn, hay có vấn đề về đường hô hấp, yếu tim khó thở, hô hấp yếu kém. Tuy vậy lại có tướng cách sống lâu. Mọc chìm : Tướng ưa đái vắt, đái sót. Tánh chậm chạp, lừ đừ. Chỉ chú ý đến sự sống của riêng mình, không biết quan tâm và chia sẽ với ai khác.
Nút ruồi mọc tại phía bộ xương sống hoặc ở hai bên trái phải của xương sống : mọc nổi : Tướng thường mắc bịnh nhưng không nghiêm trọng, thường có bịnh về đường ruột hay bao tử. Mọc chìm: có thể phát bịnh về nội tạng. Đàn bà thì rất buồn phiền, bịnh tình thường lấn áp tâm trí và hay gây biến chứng. Nhưng số lại không yểu.
Nút ruồi đỏ ở lưng là tướng cách của quí nhân, bậc công hầu khanh tướng.
Nút ruồi mọc trên bàn tay là người có quý tướng, mọc trên lưng bàn tay thì có ý nghỉa tương tự, tuy ít “mạnh”, ít quý hơn trong lòng bàn tay. Nút ruồi son trong lòng bàn tay gọi là Chưởng Thượng Minh Châu tức là bàn tay có nắm hột ngọc, cực phú cực quý, rất giàu, tiền hô hậu ủng.
Nam Nữ như nhau, người thuận tay phải có nút ruồi trên tay phải, chủ về cầm quyền, quý cho những nghành nghề có liên quan đến “động”, thí dụ : đứng đầu trong quân đội, trong hảng xưởng, buôn bán. Người thuận tay phải có mụt ruồi trên tay trái thì có tài về những việc tĩnh, thí dụ : hạng nhứt trong gia công, nội trợ, có tài ăn nói hoạt bát, giỏi về ngoại giao, thông minh về ngôn ngữ.
- Nút ruồi nằm ở ngón tay cái: làm việc gì cũng muốn thành công mỹ mãn nhứt, là người hòa đồng với mọi người nhưng thường hay bị bạn bè ganh ghét.
- Người có mụt ruồi đen hay đỏ trên ngón tay trỏ : là người có tài chỉ huy. Nói ra được mọi người lắng nghe và làm theo.
- Nút ruồi ở ngón giữa : người rất chững chạc. Là người tốt bụng, tánh tình cởi mở, như một luồng gió mát mùa hè. Người này đi đến đâu cũng đem lại niềm vui cho những người chung quanh.
- Nút ruồi ngón áp út: người này sống về nội tâm, vì tình cảm. Coi trọng tình yêu hơn bất cứ thứ gì, lại có khiếu về nghệ thuật. Nếu thêm ngón áp út dài hơn ngón trỏ, thì người này có thể trở thành một nghệ sĩ nổi danh.
- Nút ruồi ở ngón út: tính tình hơi con nít và hơi làm biếng, nhưng là người khá thông minh nên dù bắt đầu sau người khác cũng có thể đến đích trước.
Tóm lại, nút ruồi mọc trong bàn tay thì tốt. Theo tương truyền, đời nhà Thanh có Hải Lan Sát có tay dài quá gối, lòng bàn tay có bảy mụt ruồi, ông làm đến bậc vương hầu, quyền quý một thời.
Sách tướng đời Hán viết : “Tay nắm bảy sao, làm quan cực phẩm”. Đừng lẫn lộn với câu ” Nút ruồi ở tay, ăn vay suốt đời” đó là nút ruồi mọc ở cánh tay, chứ trong bàn tay kể cả giữa các kẻ của các ngón tay hay trên các ngón tay (phía trong) càng kín và nhiều chừng nào thì người càng có quý tướng chừng ấy.
Nút ruồi mọc ở lòng bàn chân còn gọi là “bàn chân dẫm lên ngôi sao” như Kỳ Nhạc, số cai quản ngàn quân. Chu Nguyên Chương tức Minh Thái Tổ ở lòng bàn chân có bảy nút ruồi “Chân đạp thất tinh” số làm vua, cực quý. Đàn bà có nút ruồi ở lòng bàn chân thì là người phụ nữ có chồng thành đạt và sẽ là cánh tay đắc lực của chồng.

Bí mật nốt ruồi trên bàn tay

Bi mat not ruoi tren ban tay

Nốt ruồi ở lòng bàn tay

Xét từ góc độ nhân tướng học mà nói, nốt ruồi ở tâm bàn tay thể hiện chủ nhân là người cẩn thận, luôn có sự tính toán kỹ càng, chính xác trước mọi việc. Nếu kết hôn với người này, bạn có thể được hưởng cuộc sống vật chất tương đối ổn định. Tuy nhiên, bạn sẽ khó có được những giây phút lãng mạn cũng như sự nhẹ nhàng khi ở họ. 
Ngón trỏ có nốt ruồi
Trong nhân tướng học, ngón trỏ hoặc ngón cái có nốt ruồi thể hiện con đường tình duyên của bản thân phần lớn nhờ vào sự giúp đỡ, vun đắp của cha mẹ hoặc anh em.
Ngón vô danh có nốt ruồi
Ngón vô danh đại diện cho hôn nhân và sự lãng mạn. Nếu chàng có nốt ruồi này nhiều khả năng vận đào hoa khá vượng. Bạn cần biết cách giữ chàng ở bên mình.
Ngón giữa có nốt ruồi
Ngón cái và ngón trỏ đại diện cho thời niên thiếu, ngón giữa đại diện cho giai đoạn sau tuổi 30. Nếu chàng có nốt ruồi ở ngón giữa thì bạn nên để tâm tới môi trường làm việc của chàng. Rất có thể vận đào hoa của chàng sẽ được dịp "phát" ở đó.

Ngoài ra nếu xuất hiện nốt ruồi đen hoặc nâu trên lòng bàn tay, ta có thể đưa ra những phán đoán khác nhau. Tuy nhiên, nốt ruồi son xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào trong lòng bàn tay đều mang ý nghĩa tốt đẹp.
1. Nếu có nốt ruồi đen xuất hiện trên gò Mộc Tinh (dưới ngón trỏ) trong lòng bàn tay của nam giới thì người này có thể làm nên sự nghiệp với sự giúp đỡ đắc lực của bên nhà vợ. Nếu ở trên tay phụ nữ thì đây là người vợ đảm đang, có khả năng quán xuyến công việc gia đình, giúp đỡ đắc lực cho chồng trên con đường sự nghiệp. Tuy nhiên, cũng có 1 số quan niệm cho rằng, nốt ruồi ở vị trí này là biểu hiện của hao tài tốn của. Ngược lại, nếu có nốt ruồi son xuất hiện ở gò Mộc Tinh thì chủ nhân có tài lộc.
2. Trên gò Thổ Tinh (dưới ngón giữa) có nốt ruồi đen: Chủ nhân của nốt ruồi này kết hôn được với nhà quyền quý, cao sang, tuy nhiên họ lại bị lệ thuộc vào nhà đó. Xuất hiện nốt ruồi son ở gò thổ tinh thì chủ nhân gặp nhiều may mắn trong đường công danh, dễ trở thành người nổi tiếng, vang danh thiên hạ.
3. Trên gò Thái Dương (dưới ngón đeo nhẫn) có nốt ruồi đen: Người này sẽ gặp  nhiều bất ngờ trong chuyện tình cảm, có thể có... tình yêu sét đánh dẫn đến duyên vợ chồng. Xuất hiện trên gò Thái Dương thì người này sẽ gặt hái được nhiều thành công nếu đi theo con đường nghệ thuật.
4. Trên gò Thủy Tinh (dưới ngón út): Chuyện tình duyên của người này không được suôn sẻ. 1 số quan niệm khác cho rằng đó là dấu hiệu của sự tham lam, trộm cắp và bị vợ hại. Nốt ruồi son xuất hiện trên gò này thì chủ nhân có được mối lương duyên bất ngờ tốt đẹp.
5. Dù là nam hay nữ, nếu trên gò Thái Âm có xuất hiện nốt ruồi thì mối duyên tình của họ đến với nhau bằng những nghĩa cử hào hiệp.
6. Trên gò Kim Tinh (dưới ngón tay cái) có nốt ruồi đen: Mối tình đầu của người này dễ bị chia ly, ngăn  cách, gây ra nhiều khổ tâm. Nếu trên gò này xuất hiện nốt ruồi son thì chủ nhân có cuộc sống sung túc, giàu có.
7. Có nốt ruồi đen trên cánh đồng Hỏa Tinh (phần trũng nhất, nằm giữa lòng bàn tay): Chủ nhân của nốt ruồi này là người dễ bị lệ thuộc vào tình yêu. Họ là người có số đào hoa, được nhiều người khác giới yêu mến.
8. Trên đường Sinh Đạo: đề phòng tai nạn, chết đột ngột.
9. Nếu trên đường Tâm Đạo xuất hiện nốt ruồi thì chủ nhân gặp nhiều thất bại hơn là thành công.
10. Nốt ruồi xuất hiện trên lóng (đốt) thứ 3 của ngón đeo nhẫn: Chủ nhân là người mắc các bệnh về mắt.
11. Trên vòng cổ tay có nốt ruồi: Chủ nhân được hưởng gia tài lớn hoặc vì điều may mắn bất ngờ mà trở nên giàu có.
12. Một vài nốt ruồi đen nằm trên đường trí đạo: Người này sống tự lập, xa gia đình từ rất sớm. Nếu có thêm 1 hình tam giác ở đó nữa là đây là người có thể tự mình làm nên đại nghiệp.  
13. Nốt ruồi son ở lóng thứ 1 của ngón trỏ thì chủ nhân có cuộc sống nhàn hạ, hạnh phúc.
14. Nếu xuất hiện ở lóng thứ 2 ngón trỏ thì người này được sự giúp đỡ của mọi người, gặt hái được nhiều thành công trong sự nghiệp.
15. Nếu nốt ruồi son xuất hiện ở lóng thứ 2 ngón tay cái thì chủ nhân dễ gặp phải tai nạn bất ngờ, có thể bị gẫy chân hoặc tay…  
16. Một nốt ruồi son ở lóng thứ nhất của ngón cái: Người này có được tình yêu tốt đẹp, hôn nhân hạnh phúc.
17. Xuất hiện nốt ruồi son trên gò Hỏa Tinh âm hoặc dương thì chủ nhân có được sự giúp đỡ của mọi người, thành công trong sự nghiệp.

(Sưu tầm)